Trước hết, tôi xin thưa với quý vị tôi không phải là một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH). Tôi chỉ là một người học sử, một người nghiên cứu sử. Tôi xin thưa trước như thế để tôi xác định bài nói chuyện của tôi là cách nhìn của một người nghiên cứu về một nhân vật lịch sử đặc biệt là Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, chứ không phải là cách nhìn của một tín đồ đối với vị giáo chủ của mình.
Phật giáo Hòa Hảo do Đức thầy Huỳnh Phú Sổ thành lập tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939). Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 25 tháng 11 năm kỷ mùi (15-01-1920), là con trai đầu của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm, một gia đình nông dân trung lưu.
Phật giáo Hòa Hảo dựa căn bản trên đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (Núi quý hương kỳ diệu) hay Phật giáo Tứ ân, một tông phái Phật giáo do Đức thầy Đoàn Minh Huyên (1807-1856) thành lập năm 1851 tại làng Long Kiến, Chợ Mới, An Giang. Phật giáo Tứ ân chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, giản dị hóa nghi thức Phật giáo, không có tăng sĩ, không cất chùa mà tổ chức khẩn hoang, lập trại cho nông dân vừa sản xuất vừa tu học. Đồng thời Phật giáo Tứ ân rất đề cao “tứ đại trọng ân” (bốn ân lớn) là: ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM BẢO (trong đạo Phật), ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LỌAI.
Phật giáo Tứ ân là một hình thức tổng hợp hết sức khéo léo giữa Phật giáo và Nho giáo. Ân tam bảo (Phật, pháp, tăng) nằm trong Phật giáo, điều đó quá rõ ràng. Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân đồng bào và nhân loại, thuộc về tương quan xã hội, có nhiều điểm tương đồng với phần hình nhi hạ học trong Nho giáo. [Nho giáo có thể chia thành hai phần: hình nhi thượng học nói về những lẽ vô hình cao viễn của vũ trụ, và hình nhi hạ học tức cái học về những vấn đề xã hội, con người.]
Hình nhi hạ học trong Nho giáo dạy đạo làm người, tức dạy con người trở thành người tốt trong xã hội, giữ gìn 8 điều căn bản là hiếu, đễ, trung, thứ, tu, tề, trị, bình; và hành xử theo 5 đạo lớn của con người là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (tức ngũ thường). Giềng mối xã hội dựa căn bản trên ba mối quan hệ trong đạo làm người (tam cương) là quân thần (vua tôi), phu phụ (chồng vợ) và phụ tử (cha con). Ngày nay, nội dung của tam cương có phần thay đổi, nhưng vẫn dựa nền tảng trên mối liên hệ giữa tổ quốc và công dân, chồng và vợ, cha mẹ và con cái. Đó là căn bản của xã hội.
Tiếp nối Phật giáo Tứ Ân, Phật giáo Hòa Hảo chủ trương cải cách đạo Phật theo đúng với đời sống thực tế của nông dân, không thiết lập giai cấp tăng lữ, không tổ chức giáo quyền, không tích lũy giáo sản, không chú trọng đến hình thức, không làm chùa nguy nga, không tạc tượng, không đúc chuông, không đốt vàng mã, khuyến khích các nghi lễ giản dị trong việc thờ phụng, cưới xin, tang lễ.
Như thế, PGHH đã đưa giáo lý nhà Phật đến tận từng nhà, tận từng cá nhân, để hướng dẫn tín đồ cách hành xử hàng ngày trong sinh hoạt xã hội. Nói cách khác, PGHH là tôn giáo dấn thân vào đời, đi vào đời sống thực tế của dân chúng, mà cuộc đời của vị khai sáng, Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, là tấm gương cao cả của sự dấn thân nầy.
Sự nghiệp truyền giáo của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ có thể chia thành hai giai đọan rõ rệt:
Giai đọan thứ nhất (1939-1942): Từ khi khai đạo, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ vừa thuyết pháp, vừa sáng tác nhiều kệ giảng, dựa trên giáo lý nhà Phật, khuyên người gắng sức tu hành để thoát những tai ương do thời cuộc đưa đến. Những kệ giảng của Đức thầy thuần túy bằng tiếng Việt, rất giản dị, lại có vần điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lập lại hằng ngày trong cuộc sống, nên rất dễ phổ biến. Trong giai đọan nầy Đức thầy đã sáng tác năm sách kệ giảng, gồm tổng cộng 3,602 câu thơ.
Giai đọan thứ hai (1942-1947): Đây là giai đoạn Ngài bắt đầu dấn thân vào sinh hoạt chính trị. Tai ương lớn nhất và là nỗi khổ lớn nhất của chúng sinh (Việt Nam) lúc đó, chính là nền đô hộ và bóc lột của thực dân Pháp. Vì vậy, từ năm 1942, Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ bắt đầu dấn thân vào con đường họat động chính trị để góp phần hóa giải nỗi khổ nầy, chính là một cách cứu nhân độ thế hữu hiệu nhất của một nhà tu yêu nước. Những hoạt động chính trị của Huỳnh giáo chủ luôn luôn dựa trên căn bản đạo đức của nhà Phật.
Khi được tin vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tuyên bố độc lập ngày 11-3-1945, Huỳnh giáo chủ đã ra huấn lệnh ngày 15-3-1945 (mồng 2 tháng 2 năm ất dậu) cho tín đồ như sau: “Đạo Phật là đạo từ bi bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng đại độ; tuy tình thế đổi thay chớ tấm lòng nhơn chẳng đổi. Vậy hãy coi toàn dân như anh em một nhà, mong họ liên kết với chúng ta để kiến thiết lại quê hương cùng nền Đạo nghĩa…” (Ban Trị sự Trung ương Hải ngoại, Sấm giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, 2004, tr. 481.)
Chẳng những ra lệnh cho tín đồ, Đức Huỳnh giáo chủ còn đưa ra lời kêu gọi tinh thần đoàn kết đến toàn thể đồng bào Việt Nam như sau: “Vậy tôi xin khuyên tất cả đồng bào muốn tỏ ra xứng đáng với một người dân một nước tự do thì chúng ta hãy nên đoàn kết chặt chẽ cùng nhau, hãy quên hết những mối thù hiềm ganh ghét, đừng bày ra cái họa nồi da xáo thịt…”(Ban Trị sự Trung ương Hải ngoại, sđd. tr. 490.)
Tri hành hợp nhất (biết và làm là một), Đức Huỳnh giáo chủ luôn luôn hành động theo những điều Ngài hiểu biết và giảng tập cho tín đồ. Ngài sẵn sàng hợp tác với các tổ chức hay lực lượng khác để tranh đấu cho đất nước. Sau khi vua Bảo Đại tuyên bố độc lập, Huỳnh giáo chủ đã sát cánh cùng với các nhân sĩ, chính trị gia thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất (MTQGTN) ngày 14-8-1945 để ứng phó với tình thế.
Mặt trận Việt Minh nhanh tay cướp chính quyền ở Sài Gòn, lập Uỷ ban Hành chánh Nam Bộ Lâm thời (Lâm uỷ hành chánh), gồm toàn người của VM. Lâm uỷ hành chánh bị phản đối mạnh mẽ. Việt Minh liền họp cùng các nhân sĩ và MTQGTN cùng các tổ chức chính trị khác ngày 4-9-1945 tại trường Mỹ Nghệ Gia Định (gần bệnh viện Nguyễn Văn Học), dưới sự chủ tọa của Đức Huỳnh Phú Sổ. Cuộc họp đưa đến quyết định cải tổ Lâm uỷ Hành chánh. Cuộc cải tổ nầy được thông qua trong cuộc họp đêm 7-9-1945 tại trụ sở Tổng công đoàn đường De la Grandière (đường Gia Long), theo đó Phạm Văn Bạch làm chủ tịch Lâm uỷ Hành chánh, Trần Văn Giàu làm phó chủ tịch kiêm uỷ trưởng quân sự. Đức Huỳnh Phú Sổ được mời làm cố vấn trong Lâm uỷ Hành chánh.
Tuy nhiên, chỉ hai ngày sau (9-9), Trần Văn Giàu (VM) tung người bao vây bắt Đức Huỳnh Phú Sổ tại văn phòng, nhưng Ngài thoát được. Việt Minh ra lệnh giải tán MTQGVNTN, và bắt các lãnh tụ của mặt trận nầy, đồng thời tìm bắt giết những nhân vật quan trọng của Phật giáo Hòa Hảo. [Như Huỳnh Thạnh Mậu (em ruột Đức thầy Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn Xuân Thiếp, Trần Ngọc Hoành tại Cần Thơ; Chung Bá Khánh, Đỗ Thiều, Võ Văn Thời tại Trà Vinh, Vĩnh Bình.]
Trước tình hình mới, Huỳnh giáo chủ không thể khoanh tay tu trì để nhìn thế sự đảo điên, nên Ngài đã “Quyết rứt cà sa”, nhằm trả ân đồng bào, ân đất nước. Bốn câu đầu bài “Quyết rứt cà sa”, thơ thất ngôn liên hoàn, sáng tác năm 1946, nói rõ tâm sự của Huỳnh giáo chủ:
“Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,
Quyết rứt cà sa khoác chiến bào,
Đuổi bọn xâm lăng, gìn đất nước,
Ngọn cờ độc lập phất phơ cao…”
(Ban Trị sự Trung ương Hải ngoại, sđd. tr. 527.)
Ngày 14-6-1946, tuyên bố với báo chí, Huỳnh giáo chủ xác nhận: “Tôi, một đệ tử trung thành của đạo Phật, một chiến sĩ trì chí của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam, sẵn sàng cùng đoàn thể mình cương quyết đứng dậy đáp lại tiếng gọi của non sông, cương quyết tranh đấu bảo vệ quyền lợi chung cho nòi giống.” (Ban Trị sự TƯHN, sđd. tr. 542.)
Ngày 21- 9-1946, Ngài chính thức thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng, được đồng bào miền Tây hưởng ứng mạnh mẽ. Tuyên ngôn của Dân Xã Đảng do Đức thầy Huỳnh Phú Sổ công bố, nhấn mạnh: "Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: "chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân". Đảng Dân Xã chủ trương "toàn dân chánh trị, thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào."(Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai, sđd. tr. 533.)
Một lần nữa, Việt Minh lại mời Đức Huỳnh Phú Sổ hợp tác. Tuy bề ngoài tỏ ra đoàn kết, nhưng từ tháng 12-1946, nghĩa là từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh với Pháp, VM đưa ra ba mật lệnh cho nhân viên, bằng tất cả các cách, triệt hạ uy tín Đức Huỳnh Phú Sổ, phá vỡ tổ chức Dân Xã Đảng, và thủ tiêu các lãnh tụ của đảng nầy. (Lữ Giang, Những bí ẩn đàng sau cuộc chiến Việt Nam, quyển 1, tái bản lần thứ nhất, California: 1999, tr. 366. Mật lệnh lần thứ nhất ngày 26-12-1946 của Kiều Tấn Lập, giám đốc Sở chính trị thuộc Nha công an; mật lệnh thứ hai của Phạm Hùng, ngày 30-1-1947, xứ ủy Nam Bộ; mật lệnh thứ ba của Nguyễn Văn Tây, thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ.)
Những cuộc xô xát giữa Dân Xã Đảng và Việt Minh càng ngày càng trầm trọng. Ngày 16-4-1947, Bửu Vinh, chi đội trưởng Vệ Quốc Quân, và Trần Văn Nguyên, thanh tra chính trị miền Tây, mời Đức Hùynh Phú Sổ đến họp để giải quyết các cuộc xung đột giữa lực lượng hai bên tại Sa Đéc. Nhân đó, đoàn của Đức Huỳnh Phú Sổ bị tấn công tại kênh Đốc Vàng Hạ (thôn Tân Phú, Kiến Phong). Việt Minh đem Ngài đi mất tích. (Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai, sđd. tr. 10.)
Chắc chắn ở đây, trong phòng nầy, có nhiều vị rất giỏi về Phật pháp. Tôi không dám đi vào lãnh vực nầy. Tôi chỉ xin nhắc lại ba đức tính căn bản của nhà Phật là BI, TRÍ, DŨNG. Đây là ba đức tính của chư vị bồ tát, tức là những vị tu trì đắc đạo, đã đạt thành chánh quả, nhưng lại chấp nhận hiện thân ở thế gian để hành đạo, nhằm trực tiếp cứu nhân độ thế.
Cưú nhân độ thế là mục đích tối thượng của cuộc đời hành đạo của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, như đã có lần Ngài nói: “…Thực hành trên thiệt tế bằng mọi biện pháp để đem lại cái phước lợi cho toàn thể chúng sánh thì đó là sự thỏa mãn trong đời hành đạo của mình…” (Ban Trị sự TƯPGHHHN, sđd. tr. 548.)
Cuộc đời của Đức Huỳnh giáo chủ đã phản ảnh trung thực ba đức tính BI TRÍ DŨNG của nhà Phật. Chẳng những Ngài chia sẻ nỗi đau của dân chúng Việt Nam, nhưng chính Ngài đau cái đau của dân chúng Việt Nam, khổ cái khổ của dân chúng Việt Nam. ĐÓ LÀ BI.
Bằng trí huệ bát nhã, Ngài thấy rõ giải pháp chính trị tốt đẹp cho Việt Nam là nền dân chủ chân chính, “chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân” và chống lại tất cả những hình thức độc tài, áp bức, hại dân. Ở đây, cần chú ý là Đức thầy Huỳnh Phú Sổ không chống một cá nhân nào, một tổ chức nào, hay một đảng phái nào, mà chống lại tất cả các hình thức độc tài, tà phái, bán nước, phản dân. ĐÓ LÀ TRÍ.
Chính vì ý thức như vậy, nên dầu biết những hiểm nguy đang rình rập mình, Ngài vẫn can đảm nhiều lần chấp nhận đối thoại với Việt Minh, để tìm ra những giải pháp tốt đẹp cho công cuộc tranh đấu giành độc lập cho đất nước, tuy Việt Minh đã nhiều lần âm mưu hãm hại Ngài. ĐÓ LÀ DŨNG.
Tài liệu của Ban Trị sự Trung ương của Phật giáo Hòa Hảo hải ngoại viết rằng: “Ngày 25 tháng 2 nhuần năm đinh hợi (16-4-1947), Uỷ ban hành chánh Việt Minh âm mưu bắt Ngài tại Đốc Vàng Hạ (vùng Đồng Tháp). Từ đó, không ai rõ tin tức chi về Đức Huỳnh giáo chủ., nhưng toàn thể tín đồ của Ngài không ai tin rằng Việt cộng có thể làm hại Ngài được. Và muôn người như một, đang mong đợi một ngày về trong sứ mạng vinh quang nhất của Ngài.” (Trích nguyên văn, tr.10.) Đó là niềm tin của những tín đồ PGHH.
Tuy nhiên, với người Việt Nam nói chung, dù Đức Huỳnh Phú Sổ có trở về hay không, thì Đức Huỳnh Phú Sổ luôn luôn là một nhà yêu nước vĩ đại. Cuộc đời của Đức Huỳnh Phú Sổ là mẫu mực điển hình của hạnh Bồ tát BI, TRÍ, DŨNG.
Nói cho cùng, thưa quý vị, Đức Huỳnh Phú Sổ chính là vị Bồ tát hiện thân, để cứu nhân độ thế trong giai đoạn tao loạn nhất của lịch sử Việt Nam.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 15-6-2008)
|