Đề Mục
   Trang Nhà
 Xã Hội
 Thế Giới
 Văn Học
 Trang Thơ
 Biên Khảo
 Quan Điểm
 Nghệ Thuật
 Quốc Nội Đấu Tranh
 Hải Ngoại Đấu Tranh
 
Nghệ Thuật
 
 
Nước Việt Online
   Bài Lưu Trữ
 Ban Biên Tập
 Mục Lục Tác Giả
 Liên Lạc NV Online
 Cách Vượt Tường Lửa
 
Diễn Đàn Nước Việt
 
 
 
31-8-2007 -- Xã Hội
Thắc Mắc Về Hình Ảnh THIÊN CHÚA Trong Ngũ Thư


Đỗ Trân Duy


Mùa chay không giản dị chỉ là mùa chay tịnh. Theo ngôn ngữ Công Giáo đây là mùa lent. Nguyên gốc tiếng Anglô Saxon, lent có nghĩa là thời gian vào mùa xuân, thời vạn vật có mầm sống mới. Lent, vì vậy, mang khái niệm về sự tái sinh. Lent là thời điểm vượt qua. Con người vị kỷ cũ suy tàn theo mùa đông để con người mới thức tỉnh nhận ra ý nghĩa thật của sự sống. Nhận thức tiên khởi của sự sống phải là ý thức về Thiên Chúa. Khái niệm về Thiên Chúa được biểu lộ qua các bài đọc trong thánh lễ Chủ Nhật mùa lent. Đó là những trích đoạn trong bộ Tôra, tức Ngũ Thư. Tôra tương truyền do Môse biên soạn gồm 5 cuốn: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, và Thứ Luật. Do Thái giáo và Kitô giáo cùng có chung mặc khải về Thiên Chúa bắt nguồn từ bộ Tôra. Điều cần nói là trong Tôra, Thiên Chúa được nhận diện một cách rất đặc thù. Lối nhìn này đã gây ra hoang mang cho một số Kitô hữu và những vị tân tòng.

Thiên Chúa Theo Lối Nhìn Của Người Do Thái Thời Môse

Từ cổ thời, người Do Thái đã nhận ra Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất. Họ dùng ký hiệu YHWH để chỉ Thiên Chúa. Húy danh YHWH duy trì được lòng tôn kính của họ về một huyền nhiệm siêu việt, vì người ta chỉ có thể chiêm niệm YHWH chứ không thể nói ra. Muốn xướng danh YHWH, người ta phải thêm vào những nguyên âm ê, ô, a để trở thành YêHôWah (Giêhôva) hay YahWêh (Giavê). Từ thời cổ, dân Do Thái nhìn Giavê với lòng kính sợ. Họ tin những bất hạnh là hậu quả nổi giận của Giavê. Lịch sử “dân Chúa” bắt đầu từ lúc họ là dân nô lệ sống trên đất Ai Cập. Tuy họ có yếu tố dân tộc nhưng lại thiếu yếu tố lãnh thổ để thành lập một quốc gia. Muốn lập quốc cho dân Chúa, Thiên Chúa trao cho Môse quyền lãnh đạo và hỗ trợ ông giải phóng họ khỏi ách nô lệ từ bạo chúa Pharaô. Sau đó Thiên Chúa hướng dẫn họ tới miền đất Người đã hứa ban cho để dựng nước. Có thể nói vào thời Môse (1300 trước công nguyên) Thiên Chúa được nhận diện rõ hơn cả, vì Giavê đối thoại trực tiếp để lập giao ước với dân của Người.

Lãnh tụ Môse là người duy nhất được tiếp xúc với Giavê mặt đối mặt. Vì vậy ông là người độc nhất nắm quyền chuyển mệnh lệnh từ Giavê đến cho dân. Đương nhiên ông là người có thẩm quyền tối thượng giảng giải về lời Chúa, thành lập luật lệ, và xử luật. Uy thế này đã củng cố cho ông một địa vị cao cả trên muôn dân bao gồm những quyền chính trị, tôn giáo lẫn quân sự. Do Thái kể từ khi chống lại vua Pharaô, đến cuộc di dân dài 40 năm trong sa mạc, là dòng lịch sử chiến tranh sống còn của chủng tộc. Trong hành trình gian khổ lập quốc, Môse một mặt giúp dân giữ vững lòng tin vào Thiên Chúa, một mặt chống quân địch từ bên ngoài. Môse đã thực hiện được điều này bằng cách biến Do Thái giáo thành một chủ nghĩa ái quốc, một ý thức hệ quốc gia. Ông lồng mọi biến cố lịch sử vào ý của Thiên Chúa. Nhờ vậy ông khai sinh ra một ý chí kiêu hùng cho một chủng tộc gọi là “dân Chúa”. Ý chí này giúp dân Do Thái có sức mạnh sinh tồn. Môse và chủng tộc của ông đã nhận diện Thiên Chúa theo tinh thần ái quốc cực đoan này. Với nhân sinh quan như vậy, Môse đã vẽ ra khắp nơi, bàng bạc trong Ngũ Thư, một hình ảnh Thiên Chúa thiên vị, độc đoán, và bạo hành. Chẳng hạn để áp lực Pharaô thả dân Do Thái ra đi, Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập 10 thiên tai khủng khiếp khác nhau mà càng về sau cường độ của tai ương càng mạnh. Hiện tượng khó hiểu không phải ở chỗ Pharaô không biết sợ, nhưng ở chỗ Thiên Chúa cố tình an bài như thế để ra oai. Giavê nói với Môse, “Hãy đến với Pharaô, vì Ta đã làm cho lòng nó và bầy tôi nó lì ra, ngõ hầu ta làm dấu lạ để ngươi thuật lại cho con cháu ngươi nghe Ta đã xử làm sao với Ai Cập, và các dấu lạ Ta đã thi thố ra nơi họ, khiến các ngươi biết Ta là Giavê” (XH 10:1-2). Trong chương 20 sách Xuất Hành, người ta nhận ra tai họa của Pharaô nằm trong công thức “Ta là Thiên Chúa ghen tuông, phạt tội cha ông trên con cháu đến ba bốn đời, đối với những ai thù ghét ta” (XH 20:5). Điều này không khỏi khiến người học đạo hoang mang.

Lịch sử cho biết trên đường tiến về miền đất hứa, để dẹp chướng ngại, Môse đã ra lệnh mở những cuộc chiến mang đầy tính chất tàn sát và hủy diệt. Mọi chiến lược chiến tranh, Môse đều nói là do Thiên Chúa truyền dậy nhằm bảo vệ “dân Chúa”. Thái độ ái quốc cực đoan của ông nổi bật nhất trong cuộc chiến ở Mađian. Trước khi khai chiến, Môse cho dân biết Giavê nói với ông rằng: “Hãy rửa mối thù của con cái Israel trên dân Mađian.” Rồi ông ra lệnh: “Một số trong các ngươi hãy lo trang bị đầu quân, để tiến đánh Mađian, mà trả thù cho Giavê.” Sau đó quân Do Thái vũ bão tiến đánh xứ Mađian như sứ mạng của một cuộc thánh chiến. Họ giết hết năm vua của Mađian là Evi, Rêqem, Xua, Hua, và Rêba. Họ cũng giết chết tất cả trai tráng Mađian, đàn bà con gái thì bị bắt làm tù binh. Họ phóng hỏa đốt hết dinh trại và thành trì, còn thú vật và của cải họ thu làm chiến lợi phẩm. Rồi họ mang chiến lợi phẩm ấy về cho Môse và cộng đồng Israel ở Moab, bên bờ Jorđan. Khi thấy đám tù nhân, Môse đã nổi cơn thịnh nộ, ông nạt đám quan quân: “Sao các ngươi lại để lũ con gái ấy sống… Hãy giết hết các trẻ con trai và mọi đàn bà đã biết nam nhân. Còn trẻ gái còn trinh chưa biết nam nhân thì dành cho các ngươi” (DS 31:1-18).

Cùng một phương thức, khi đặt ra luật lệ xã hội, Môse đặt Thiên Chúa vào kiến trúc của cơ chế hành pháp để củng cố sự hiệu lực. Chẳng hạn “Giavê phán cùng Môse rằng: “Ai mắc phong cùi thì phải ở riêng, mặc áo rách tả tơi, để đầu tóc rối, đi đâu phải la lên ô uế ô uế” (LV 13:1-2,44-46). Ngoài ra lại có những luật lệ cho phép chặt tay kẻ phạm lỗi (TL 25:11-12), đàn ông có quyền bỏ vợ nếu không ưng ý (TL 24:1-4), cho phép trả thù theo kiểu “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng” (XH 21:24), ném đá xử tử kẻ có tội (XH 21:29; TL 13:11), và còn nhiều nữa. Những luật lệ này thuần túy là bộ luật dân sự nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, nhưng Môse đã ban hành chúng trong vị thế là những giáo luật.

Theo Tôra, Thiên Chúa đã lập giao ước với Ađam, với Noê, với Abraham, và với Môse. Lòng kiêu hãnh chủng tộc khiến dân Israel cho những dân không nằm trong “giao ước” là “dân ngoại”. Môse và các vị hiền sĩ thời Cựu Ước tuy công nhận Thiên Chúa là Đấng siêu việt tối cao sinh ra muôn dân tộc, nhưng lại không chấp nhận tình yêu của Thiên Chúa nới rộng cho dân ngoại. Điều trớ trêu này đã khiến người đời sau ngộ nhận về Thiên Chúa. Họ hoang mang về một tôn giáo lạ lùng trong đó con người nghịch với thiên nhiên, con người tàn ác với con người, con người khiếp sợ Thiên Chúa, Thiên Chúa ghét con người.

Nhận Diện Về Thiên Chúa Qua Thời Gian

Ý thức về Thiên Chúa bắt nguồn từ kinh điển Tôra. Tuy nhiên trên hành trình tâm linh tiến đến với Thiên Chúa, người đời sau không nhất thiết phải chịu ảnh hưởng bởi nhận định của trường phái Môse. Từng chút một qua thời gian, càng ngày nhân loại càng có nhận thức rõ hơn về Thiên Chúa. Chúng ta hãy bắt đầu nhận diện Thiên Chúa từ biến cố Người hiện ra với Môse dưới dạng bụi cây bốc lửa. Môse hỏi, “Nếu họ hỏi con tên của Người là gì thì con nói với họ làm sao?” Lời Thiên Chúa phán ra từ ngọn lửa (qua tiếng Hebrew): “Ehyeh asher ehyeh”. Tiếng Hy Lạp dịch câu này là “Ego eimi hoon” (Ta là Đấng hằng có); tiếng Anh dịch là “I am who I am” (Ta là Ta); tiếng Việt dịch là “Ta có sao Ta có vậy”. Theo học giả Martin Buber, chữ ehyeh nguyên ngữ Hebrew là một động từ và có nghĩa “có ở đây có ở đó”. Vậy cả câu “Ehyeh asher ehyeh” phải dịch là “Ta hiện diện như Ta đang hiện diện”. Vượt trên tất cả sự bất toàn của văn tự, ngôn ngữ chúng ta đều cố gắng nắm bắt cái ý niệm “đang có mặt”. Nhưng rõ ràng khóm chữ ấy nói về một trạng thái vĩnh hằng chứ đâu phải là tên của Thiên Chúa. Từ đây ý niệm về Thiên Chúa sáng tỏ. Thiên Chúa không thể nêu danh, không ngưng đọng trong thời gian và không gian. Nói một cách khác Thiên Chúa là Đấng tự hữu, hiện diện ở khắp mọi nơi và không thể hiểu được. Mọi sự trong toàn cõi trời và đất đều biểu lộ tràn đầy vinh quang Thiên Chúa (Isa 6:3; Edê 43:2).

Hành xử của Thiên Chúa cũng không như “dân Chúa” có thể tưởng. Ngay từ thời Môse, tuy chi họ Lêvi được giữ phẩm tước tư tế, nhưng Thiên Chúa lại thường nói với dân người qua các vị tiên tri dân giả. Các tiên tri, hay ngôn sứ, nói về Thiên Chúa cũng có khác với trường phái Môse. Tiên tri Isaia thấy Do Thái trong liên hệ cộng đồng thế giới. Thiên Chúa tỏ lộ vinh quang của Người với muôn dân tộc, bởi vì Thiên Chúa “ban sinh khí cho mọi cư dân trên mặt đất.” Đối với Do Thái, Người chỉ muốn họ giữ địa vị là “ánh sáng cho mọi dân tộc” mà thôi (Isa 42:5-6; 49:6). Ngôn sứ Giôna xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa muốn tiêu diệt “kẻ thù của Người” (nói theo ngôn ngữ trường phái Môse). Giôna kể rằng dân Ninivê có lối sống xa đoạ, nhưng Thiên Chúa vẫn thương họ. Mặc dù Giôna không muốn và tìm đủ mọi cách để từ chối sứ mệnh, nhưng Thiên Chúa nhất quyết sai ông đến cảnh tỉnh dân Ninivê để cứu họ khỏi bị án phạt (Giô 3:10, 4:1-11). Tiên tri Đanien ghi lại biến cố vua xứ Babylon là Nabukôđônôsô đánh chiếm thành Giêrusalem của dân Chúa. Sau đó vua cho đúc một tượng người khổng lồ bằng vàng và bắt dân chúng thờ phượng. Dù phạm thượng như vậy, Thiên Chúa đã không trừng phạt Nabukôđônôsô nhưng lại khai tâm ông, khiến ông trở thành người kính phục Thiên Chúa (Đan 3:1-30). Ngoài các vị tiên tri, nhiều hiền nhân khác cũng nhận ra Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, chậm nổi giận, giàu tình thương, còn lỗi phạm của ta Thiên Chúa ném đi thật xa (Giô 4:2; Joe 2:13; TV 103:8-13).

Hơn 1000 năm sau Đức Giêsu đã mang đến một tin mừng mới. Thiên Chúa thiết lập một Tân Ước với dân người. Đức Giêsu dậy dân gọi Thiên Chúa là Cha. Cha là nguồn tình thương, nguồn tha thứ, và nguồn ân sủng. Một người Cha hiền lành, nhân từ vô bờ bến, hằng ngày trông chờ đứa con hoang đàng trở về. Danh xưng “Cha” quả là một cuộc cách mạng tôn giáo chưa từng có. Girzone cho biết cho đến ngày nay, người Do Thái vẫn không chấp nhận nổi sự kiện gọi Thiên Chúa là Cha. Thiên Chúa là Đấng tự hữu, toàn năng, vô giới hạn, như vậy chỉ có một Thiên Chúa là điều hợp lý. Tuy nhiên Đức Giêsu dậy rằng Thiên Chúa tuy là một nhưng có ba Ngôi. Đến đây trí óc con người không còn có thể tìm ra lý lẽ gì cho sự hợp lý về Thiên Chúa. Nếu cố gắng tri thức về mặc khải này, con người sẽ chỉ thu được những hình ảnh sai lạc và những ngộ nhận lớn lao. Suy ra con người không thể đến với Thiên Chúa qua trí óc suy luận, mà chỉ có thể đến với Người bằng đức tin. Thánh Tôma Aquinas khảng định rằng điểm tối cao của trí tuệ con người về ý thức Thiên Chúa là: ta không biết gì về Người.

Cha yêu thương loài người nên sai ngôi Con—Đức Giêsu—nhập thế để cứu độ cho muôn dân. Đức Giêsu tự xưng mình là Đấng chăn lành, Người đã đi đó đây rao giảng một ý thức mới về Thiên Chúa. Người hoàn hảo hóa lối nhìn Thiên Chúa qua hình thức luật lệ của Môse. Chẳng hạn Người vô hiệu hóa luật khai trừ tín hữu cùi (Luc 5:12-13), chấm dứt cảnh ném đá xử tử (Gio 8:1-11), ngăn cản luật ruồng bỏ vợ (Mac 10:2-9), hủy luật trả thù (Luc 6:27-36). Cốt tủy của sự cải thiện này là hủy bỏ hàng rào bưng bít chân lý của Đạo. Lối sống mới của con người là qui hướng về Thiên Chúa qua tình yêu chứ không phải ép lòng vì sợ hãi luật buộc. Luật lệ không giải thoát con người. Chính cái chiều sâu của nội tâm “mến Chúa yêu người” mới giải thoát con người. Một thí dụ điển hình là nhóm Pharisêu đưa một người tê liệt đến thách thức Đức Giêsu phạm luật kiêng việc ngày sabát. Nhóm Parisêu tin trong ngày sabát Thiên Chúa nghỉ việc nên Người ra lệnh mọi người cùng nghỉ việc. Đức Giêsu cho biết Thiên Chúa không bao giờ ngừng làm việc (Gio 5:17). Ngày sabát là một giao ước để con người có cơ hội buông xả nỗi ưu tư để an trú trong an tịnh huyền nhiệm của Thiên Chúa. Sabát là thời điểm của tình yêu, của sự tự do, của sự bình đẳng giữa chủ và nô lệ. Nhóm Pharisêu không nhìn ra sự nối kết giữa con người và Thiên Chúa. Với họ luật lệ là chân lý. Đức Giêsu nói với lương tâm của họ, “Vậy trong các ông, ai có con cừu sa hố vào ngày kiêng việc mà không kéo nó lên?” Nhóm Pharisêu bẽ bàng nhìn nhau. Đức Giêsu nói tiếp, “Con người còn quí hơn con cừu biết mấy”. Rồi, Người chữa lành cho kẻ bị liệt (Mat 9:12-14). Vượt trên qui ước của luật lệ, sự thiện mỹ của tâm hồn mới là phẩm chất cao quí nhất của con người. Phẩm chất này mới là giá trị thật của Đạo Chúa (Gal 5:18; Rom 7:6). Cuối cùng Chúa Giêsu xóa bỏ hình ảnh “Thiên Chúa trả thù đến ba, bốn đời”. Chúa đến không phải để trả thù nhưng để nhận cái chết để cứu muôn dân đến muôn đời.

Minh Xác Về Hai Điểm Căn Bản Thần Học

1. Bề mặt của những khuynh hướng mới thường gây nên ngộ nhận là “Cựu Ước” và “dân Chúa thời Cựu Ước” đã bị “Tân Ước” và “dân Chúa mới” thay thế. Thần học minh xác rằng dân Do Thái luôn luôn vẫn là dân đã được tuyển chọn để lãnh nhận mặc khải và giao ước. Chính Đức Giêsu là người Do Thái. Cựu Ứớc là giao ước chưa thành. Tân Ước là giao ước hoàn thành. Cựu Ước đặt Thiên Chúa trong lịch sử Do Thái. Tân Ước thấy Thiên Chúa trong vũ trụ. Ngày nay, danh xưng “dân Chúa” được nới rộng cho muôn dân. Abraham trở thành tổ phụ nhiệm thể của muôn dân. Đức Giêsu không hủy bỏ Tôra, Người dựa vào Cựu Ước mà giáo huấn dân. Như vậy phải có Cựu Ước con người mới hiểu nổi Tân Ước. Thánh Âugútinô tóm tắt sự liên hệ ấy là: Tân Ước ẩn trong Cựu Ước, Cựu Ước lộ trong Tân Ước.

2. Theo thời gian, luôn luôn có những tri giác mới về những mặc khải của Thiên Chúa theo trình độ tiến hóa tâm linh của thời đại. Dù sự lãnh hội có thế nào, con người vẫn chỉ có thể ý thức được một điều rõ rệt, đúng nhất, và bất biến: “Thiên Chúa là tình yêu”. Không thể có câu hỏi tại sao, bởi vì không hề có Thiên Chúa ác độc. Đọc kinh điển Cựu Ước, như bộ Tôra, chúng ta trở lại với thế giới rất cổ cách đây mấy ngàn năm. Chúng ta nên có lòng cảm thương cho những người sống trong tình trạng đang lần mò đi tìm Thiên Chúa. Ngày nay chúng ta có cả một kho tàng thần học rất phong phú cố gắng luận giải vể những mặc khải của Thiên Chúa trong mọi lãnh vực. Ý niệm về Thiên Chúa nhờ vậy được sáng tỏ hơn. Tuy nhiên có nói cũng không cùng, vì ý niệm về Thiên Chúa không bao giờ ngưng đọng trong một tầng hiểu biết. Muốn cảm nhận rõ hơn về Thiên Chúa, học hỏi và tu đức là việc nên làm của mọi Kitô hữu.