Đề Mục
   Trang Nhà
 Xã Hội
 Thế Giới
 Văn Học
 Trang Thơ
 Biên Khảo
 Quan Điểm
 Nghệ Thuật
 Quốc Nội Đấu Tranh
 Hải Ngoại Đấu Tranh
 
Nghệ Thuật
 
 
Nước Việt Online
   Bài Lưu Trữ
 Ban Biên Tập
 Mục Lục Tác Giả
 Liên Lạc NV Online
 Cách Vượt Tường Lửa
 
Diễn Đàn Nước Việt
 
 
 
4-5-2008 -- Văn Học
Họ Hàng


Nguyễn Phước Đáng


Họ hàng là những người có liên hệ huyết thống. Định nghĩa kiểu bình dân, họ hàng là những người có bà-con dòng họ với nhau.

Nói cách tổng quát, họ hàng có thứ trực hệ gọi là ruột thịt, như Ông bà, cha mẹ, con cái và cháu, chắt. Rồi phân biệt họ hàng bên nội, họ hàng bên ngoại.

Một đại gia đình còn đầy đủ thì cao lắm là 5 đời: Cha Mẹ, Mình, Con, Cháu và Chắt. Thông thường là 4 đời (Mình, Con, Cháu và Chắt). Ít có người sống lâu để được gọi là ông Sơ. Mình có nghe nói đến “Tam đại đồng đường”, “Tứ đại đồng đường”, “Ngũ đại đồng đường” có nghĩa là 3 đời sống chung một nhà, 4 đời sống chung một nhà và 5 đời sống chung một nhà. Không nghe thấy câu “Lục đại đồng đường”

Những nhà có gia phả, ghi chép được nhiều đời, thì có nói đến các vị tổ của dòng họ, nối tiếp đến thứ bực sau đây: Ông Nội, Ông Cố, Ông Sơ, ông Sờ, ông Sẩm, ông Cẩm, ông Kỷ (Hồi nhỏ nghe thiên hạ chửi lộn, họ đào mồ cuốc mả nhau cho đến đời ông Kỷ, rồi ngưng, nên tôi không biết thêm nữa). Ở giữa là Mình. Phía trên có Cha Mẹ, Nội, Cố, Sơ… Phía dưới có con, cháu, chắt, chít, chút. Dưới chút không biết gọi là gì. Có lẽ không ai sống tới mức thấy được đứa chắt, nên chỉ ráng đặt tên thêm 2 đời nữa là chít và chút mà thôi. (Có người cho rằng thứ tự xuống, sau con là cháu, chắt, chiu, chít, chút. Có người cho là cháu, chắt, chút, chít )

Đó là thứ tự của họ hàng trực hệ. Tóm lại, nếu lấy Mình làm cái móc ở giữa, thì trên có Cha Mẹ, Ông Bà Nội & Ngoại, Ông Bà Cố, Ông Bà Sơ, Ông Bà Sờ, Ông Bà Sẩm, Ông Bà Cẩm, Ông Bà Kỷ (9 đời – 9 thế hệ) Dưới Mình có Con, Cháu, Chắt, Chít, Chút (5 đời – 5 thế hệ). Tổng cộng là 14 đời. Gia phả nhà tôi mới ghi được có 6 đời. Cháu nội của tôi thuộc thế hệ thứ 6 trong dòng họ. Có nhiều gia phả của các danh gia vọng tộc ghi được trên 15 đời, quá cái khung Kỷ và Chút.

Họ hàng bên Nội là những người có huyết thống với Cha.

Họ hàng bên Ngoại là những người có huyết thống với Mẹ.

Nội có nghĩa là Trong, Ngoại có nghĩa là Ngoài. Họ hàng bên Nội nặng hơn, gần hơn họ hàng bên Ngoại. Việt Nam coi họ hàng Nội, Ngoại ruột thịt, xa gần, gần như giống nhau. Miễn họ hàng dù Nội, dù Ngoại cũng không được lấy nhau làm vợ chồng. Người Tàu thì trọng Nội hơn Ngoại một cách rõ rệt. Anh Chị Em bạn-dì người Tàu có thể lấy nhau làm vợ chồng. Họ nhìn thấy họ của 2 người khác nhau thì có thể không coi là có họ hàng với nhau, nên có quyền lấy nhau. Đôi khi còn khuyến khích Anh Chị Em bạn-dì lấy nhau, để bảo vệ tài sản trong dòng họ khỏi bị thất thoát ra người ngoài.

A.- Họ hàng gần xa.

Nhưng người ta còn nói đến họ hàng gần, họ hàng xa.

Thế nào là gần, thế nào là xa, có mấy độ xa?

Tôi xin ghi ra sơ đồ họ hàng ruột thịt trực hệ, bằng một đường thẳng đứng, rồi từ đó phân tích ra những họ hàng gần, những họ hàng xa:

Ông Bà Kỷ

Ông Bà Cẩm

Ông Bà Sẩm

Ông Bà Sờ

Ông Bà Sơ

Ông Bà Cố

Ông Bà Nội, Ngoại

Cha & Mẹ

Mình

Con

Cháu

Chắt

Chít

Chút.

1) Con cùng chung Cha & Mẹ là Anh Chị Em ruột.

2) Con cùng Cha khác Mẹ hoặc cùng Mẹ khác Cha là Anh Chị Em cùng mẹ khác cha hoặc Anh Chị Em cùng cha khác mẹ. Kém Anh Chị Em ruột một bực.

3) Cháu đầu ông Nội (cùng có ông nội, ngoại chung) là Anh Chị Em chú-bác, ACE cô-cậu, ACE bạn-dì. Họ hàng rất gần.

4) Cháu đầu ông Cố (cùng có ông Cố chung) là Anh Chị Em họ. Họ hàng còn gần (hàng cháu).

5) Cháu đầu ông Sơ (cùng có ông Sơ chung) là Anh Chị Em họ xa. Họ hàng xa (hàng chắt).

6) Cháu đầu ông Sờ, ông Sẩm, ông Cẩm, ông Kỷ là Anh Chị Em họ rất xa. Họ hàng rất xa. Người ta nói đùa, họ hàng súng cà-nông bắn mới tới.

Xưa kia dòng họ thường ở gần gụi nhau, chung làng xóm, chung quê, thì Anh Chị Em họ đầu ông Sơ còn có thể nhìn nhau ra họ hàng. Ngày nay, dòng họ tứ tán muôn phương, có người lại bị văng ra khỏi quê hương, họ hàng đầu ông Cố có khi cũng chưa từng biết nhau. Anh Chị Em đầu ông Sờ, ông Sẩm… thì kể như không còn họ hàng nữa, coi như người dưng kẻ lạ, nhứt là đối với những người bình dân, không có gia phả lưu truyền chặt chẻ. Vậy chuyện họ hàng xa rất có thể lấy nhau làm vợ làm chồng mà không hay biết.

Người Việt rất quí họ hàng, nên có câu “Một giọt máu đào còn hơn ao nước lã” (có nghĩa là dù có họ hàng rất xa, vẫn hơn người dưng kẻ lạ) Do đó, người ta kéo luôn người dưng làm họ hàng nữa, như câu “Thấy sang bắt quàng làm họ”, hoặc câu “Làm Sui một nhà kéo ra cả họ”

B.- Xưng hô trong họ hàng.

Anh Chị Em ruột, ai sanh ra trước là anh, chị, ai sanh ra sau là em. Họ xưng hô với nhau là anh, chị, em. Họ gọi bậc sanh thành là Cha Mẹ (Ba Má…) và xưng là Con. ACE họ thì khác, Ai thuộc vai vế lớn là Anh Chị, Ai thuộc vai vế nhỏ là em. Con của Bác thuộc vai lớn, là Anh Chị (dù có nhỏ tuổi hơn). Con của Chú thuộc vai nhỏ, là Em (dù có lớn tuổi hơn)

Đối với những người có vai vế ngang bậc với Cha, Mẹ (anh chị em của cha mẹ) thì các Anh Chị Em, con của Cha Mẹ, xưng là Cháu, và gọi là Bác, Chú, Cô, Cậu, Dì.

Bác là Anh ruột hay Anh họ của Cha. Vợ của Bác, cháu gọi là Bác gái.

Chú là Em trai ruột hay Em trai họ của Cha. Vợ của Chú, cháu gọi là Thím

Cô là Chị, Em gái ruột, hoặc Chị, Em gái họ của Cha. Chồng của Cô, cháu gọi là Dượng.

Cậu là Anh, Em trai ruột hoặc Anh, Em trai họ của mẹ. Vợ của Cậu, cháu gọi là Mợ.

Dì là Chị, Em gái ruột hoặc Chị, Em gái họ của Mẹ. Chồng của Dì, cháu cũng gọi là Dượng.

Xưng với Bác, Chú, Thím, Cô, Dì, Dượng là Cháu. Nếu muốn tỏ vẻ thân thiết và gần gụi hơn thì có thể xưng là Con. Tiếng Con nầy thoát ra khỏi nghĩa đen.

(Bà vợ có dòng máu nửa Nam nửa Bắc của tôi cho biết, người Bắc dùng tiếng Bác, tiếng Cô và tiếng Dì, Dượng khác trong Nam, như sau:

Chị của Cha, chị của Mẹ cũng gọi là Bác.

Em gái của Cha, em gái của Mẹ đều gọi là Cô. Chồng của Cô cũng gọi là Chú.

Tiếng Dì dành cho người con gọi Vợ sau của Cha.

Tiếng Dượng dành cho người con gọi Chồng sau của Mẹ)

Đối với những người có vai vế ngang hàng với ông Nội, ông Ngoại, thì Con của Ba Má gọi là Ông Chú hay Ông Bác, tuỳ theo Cha mình gọi người đó là Chú hay Bác, và xưng là Cháu. Nếu muốn tỏ vẻ thân thiết, gần gụi hơn thì xưng Con. Tiếng Con nầy cũng thoát ra khỏi nghĩa đen.

Ông Cố thì có Cố Nội và Cố Ngoại. Nội là họ hàng bên Cha. Ngoại là họ hàng bên Mẹ.

Những người có vai vế ngang hàng với ông Cố, thì cháu thường gọi là ông Cồ.

Ngang hàng Anh Chị Em với nhau có các loại Anh Chị Em như sau:

1) Anh Chị Em ruột.

2) Anh Chị Em một cha khác mẹ hoặc ACE một mẹ khác cha.

3) Anh Chị Em chú-bác ruột (Anh, Chị con của Bác và Em con của Chú)

4) Anh Chị Em cô-cậu ruột (Anh Chị Em con của Cô và Anh Chị Em con của Cậu).

5) Anh chị Em bạn-dì ruột (Mẹ của những người nầy là Chị và Em gái ruột)

Xa hơn một chút thì có:

1) Anh Chị Em chú-bác họ (Bác và Chú không phải là Anh Em ruột)

2) Anh Chị Em cô-cậu họ (Cô và Cậu không phải là Anh Chị Em gái ruột)

3) Anh Chị Em bạn-dì họ (Hai người Dì không phải là Chị Em gái ruột).

Xưa kia dân Việt và dân Trung Hoa là nông dân. Xã hội và nền văn minh nông nghiệp, đất rộng người thưa, cần nhiều người trong gia đình, nên sinh suất rất cao, nhà nào cũng đông con. Sanh đông con, nên hệ thống dòng họ khá phức tạp, có nhiều loại họ hàng:

1) Gia đình sanh con có 2 trai sắp lên thì thế hệ sau chỉ có Anh Chị Em chú-bác.

2) Gia đình sanh con có 2 gái sắp lên thì thế hệ sau chỉ có Anh Chị Em bạn-dì.

3) Gia đình sanh con có 1 trai, 1 gái thì thế hệ sau chỉ có Anh Chị Em cô-cậu.

4) Gia đình sanh con có 2 trai, 1 gái thì thế hệ sau sẽ có 2 loại ACE chú-bác ruột và ACE cô cậu ruột.

5) Gia đình sanh con có 2 gái, 1 trai thì thế hệ sau sẽ có 2 loại ACE cô-cậu ruột và ACE bạn-dì ruột

6) Gia đình sanh đông con, có 2 trai, 2 gái sắp lên thì thế hệ sau có đủ 3 loại Anh Chị Em kể trên.

7) Gia đình chỉ sinh có 1 con thì thế hệ kế sau (cháu nội) không có ACE chú-bác, cô-cậu, bạn-dì ruột gì cả. Liên tiếp vài thế hệ chỉ sanh 1 con thì đứa con đó sẽ “cực kỳ” cô quạnh, không có ACE ruột, không có ACE họ ruột, thậm chí không có cả ACE họ xa nữa. Chung quanh chỉ còn người dưng kẻ lạ, trừ những người trực hệ, một đường thẳng đứng mong manh.

Ngày nay, theo đà văn minh, những người đã lập gia đình có khuynh hướng hưởng thụ, nên ít chịu sanh con đông, để được rảnh tay rảnh chân. Xã hội, chính quyền khuyến khích khuynh hướng nầy.

Tại các nước tư bản, phần lớn chủ trương một đổi một, nghĩa là bậc làm cha mẹ trẻ bây giờ chỉ muốn sanh tối đa là 2 con. Do vậy hệ thống họ hàng đủ (ACE ruột, ACE chú-bác, ACE cô-cậu, ACE bạn-dì) thiếu dần đi. Còn ACE chú-bác, thì mất 2 loại ACE kia, hoặc ngược lại. Nhưng chính quyền không bắt buộc, nên vẫn còn có một số gia đình khá giả, không quá ham vui, hưởng thụ cá nhân, vẫn sanh con đông. Do vậy họ hàng của những gia đình nầy còn đủ 3 loại ACE kể trên.

Tại Việt Nam ngày nay, Đảng Cộng Sản VN cai trị độc tài, bắt buộc mọi người chỉ sanh tối đa 2 con, nên hệ thống họ hàng chỉ còn một phần ba (1/3). Nhưng tại VN chính sách 2 con của Cộng sản chưa được tuân hành khắp mọi người, thậm chí chuyện đa thê vẫn còn. Chính sách 2 con chỉ áp dụng được tới công chức, đảng viên hạng thấp, chứ đối với dân chúng, nhứt là tại Miền Nam, dân chúng chưa chấp hành. Vả lại những đảng viên có chức, có quyền cao cũng không chấp hành. Lê Duẩn có nhiều vợ nhiều con, ai làm gì nào?

Với đà nầy, vài thế hệ nữa, con trẻ VN sẽ chỉ biết tới 1/3 họ hàng, hoặc chú-bác, hoặc cô-cậu, hoặc bạn-dì mà thôi. “Cây-gia-phả” sẽ cao lêu khêu, chứ không sum sê cành lá như thuở xưa. Họ hàng teo lại như vậy không biết lợi hay hại đây. Thực tế nó đang teo lại để tránh nạn nhân mãn đang đe doạ thế giới.

Tại Trung Quốc, Đảng Cộng Sản áp dụng ngặt nghèo chính sách 1 con, từ một vài thập kỷ rồi, sắp tới sẽ triệt tiêu hệ thống họ hàng, chỉ còn những người ruột thịt trực hệ, một đường thẳng đứng lẻ loi. Hệ quả bi thảm của chính sách 1 con nầy chưa lường hết được. Trung quốc là nước đông phương, dân tộc vốn chuộng Nam , khinh Nữ. Chủ gia đình nào cũng muốn có con trai nối dòng. Họ bị buộc chỉ có 1 con, nên có nhiều gia đình biết con trong bụng là gái thì họ phá thai, thậm chí khi sanh con ra rồi mới biết là gái, họ còn dám “thủ tiêu” con, bằng cách bỏ bên đường cho ai lượm thì lượm, hoặc quăng vào thùng rác công cộng… để còn hy vọng lần sau sanh được đứa khác là trai. Tình trạng nầy sẽ dẫn đến nạn gái thiếu trai thừa. Rồi sẽ tính sao đây với tình trạng Thiếu & Thừa trong xã hội nầy?

Cộng sản có kiểm soát rốt ráo chuyện sanh đẻ, buộc ai phải sanh trai, ai phải sanh gái để quân bình chuyện Thiếu & Thừa trai gái không? Nếu không giải quyết được tình trạng Trai Thừa Gái Thiếu thì có thể xảy ra những biến động sau đây:

1) Trai tráng trong nước sẽ giết nhau để giành lấy vợ chăng?

2) Hay sẽ chấp nhận vợ chung? Phụ nữ đương nhiên được quyền đa phu, đảo lộn luân thường đạo lý của dân tộc Trung Hoa, rồi từ từ trở lại thời kỳ mẫu hệ cổ xưa chăng?

3) Hay sẽ xảy ra những cuộc chiến tranh với lân bang để mong giành được chiến lợi phẩm là phái nữ?

Không lâu, thế giới sẽ chứng kiến những điều nêu trên sẽ xảy ra. C.- Những con số tính ra được trong 100 năm.

Tính trung bình, trai tráng lập gia đình ở tuổi 20, rồi sanh con đẻ cái. Hai mươi năm sau con cái lại lập gia đình, rồi cứ như vậy 20 năm sau chuyện nầy lại tái hiện… Cho nên tôi coi mỗi thế hệ là 20 năm.

“Ngũ đại đồng đường”, 5 thế hệ sống chung trong một nhà, thế hệ đầu là Cha, thế hệ chót là chắt, trải dài khoảng 100 năm. Như trên đã phân tích, mỗi gia đình sanh 4 người con, 2 trai, 2 gái, thì họ hàng sẽ có đủ dạng khác nhau: Bác, Chú, Cô, Cậu, Dì. Giả dụ từ đời ông Cha tới đời cháu, gia đình nào cũng sanh 4 con như vậy, thì trong 100 năm có thể tính ra số người trong “ngũ đại đồng đường” đó, như sau:

a) Sinh suất 4/1 (Một gia đình sanh 4 con, 2 trai, 2 gái)

1) Thế hệ Cha, 1 người trai sanh 4 con = 2 trai + 2 gái

2) Thế hệ Mình, 2 người trai sanh 4 con = 8 con = 4 trai + 4 gái

3) Thế hệ Con, 4 người trai sanh 4 con = 16 con = 8 trai + 8 gái.

4) Thế hệ Cháu, 8 người trai sanh 4 con = 32 con

5) Thế hệ Chắt 32 người chưa sanh con .

Tổng cộng số người trong “ngũ đại đồng đường” là:

1 + 2 + 4 + 8 + 32 + 15 con dâu = 62 người.

(Tính theo giả thiết, gia đình sanh 4 con, 2 trai, 2 gái. Gái gả đi, không sanh con cho họ nhà nữa, chỉ còn 2 trai sanh con cho họ nhà. Và họ nhà rước về 15 con dâu)

Trên đây là tính theo sinh suất 4/1 (1 gia đình sanh 4 con). Thuở xưa sinh suất cao hơn nhiều, có khi lên đến 10/1 hoặc 12/1.

b) Sinh suất 2/1 (Một gia đình sanh 2 con, 1 trai, 1 gái)

Theo chánh sách 2 con rồi nghỉ (sinh suất 2/1), như Việt Nam bây giờ, thì trong 100 năm tính ra số người trong “ngũ đại đồng đường” được:

1 + 1 + 1 + 1 + 1 + 5 con dâu = 10 người

(Tính theo giả thiết gia đình sanh 2 con, 1 trai 1 gái. Gái gả đi không sanh con cho gia đình nữa, nhưng gia đình rước về số con dâu để sanh con cho gia đình mình)

c) Sinh suất 1/1 (Một gia đình chỉ sanh 1 con thôi)

Theo chánh sách 1 con (Sinh suất 1/1), như Trung Quốc bây giờ, thì tính ra 100 năm số người không có họ hàng trong 1 “ngũ đại đồng đường” sẽ là:

1 + 1 + 1 + 3 con dâu = 6 người

(Tính theo giả thiết, mỗi gia đình sanh chỉ 1 con, 2 đời liên tiếp sanh trai, đời thứ 3 sanh gái gả cho họ khác, kể như họ đó bị xoá sổ. Họ Nguyễn rất đông, có nhiều họ Nguyễn không họ hàng gì với nhau. Đứt bóng cánh họ Nguyễn nầy cũng còn cánh họ Nguyễn khác. Chứ những họ hiếm, thuần giống, nếu có 1 người sanh con gái hoặc có 1 người chết bất đắc kỳ tử, chưa kịp sanh con, thì kể như xoá sổ họ đó).

Không biết những nhà xã hội học trên thế giới có thấy ra điều gì về khuynh hướng biến họ hàng thành đường thẳng đứng đơn độc không? (Nói cách khác, là chánh sách vợ chồng chỉ được phép sanh 1 con của Cộng Sản Trung Hoa, triệt tiêu hệ thống họ hàng)

Riêng tôi, tôi coi cuộc triệt tiêu nầy sẽ nẩy ra chuyện trời long đất lỡ trên thế giới!

San Jose , Đầu Đông 21-12-2007

Nguyễn Phước Đáng.