Đề Mục
   Trang Nhà
 Xã Hội
 Thế Giới
 Văn Học
 Trang Thơ
 Biên Khảo
 Quan Điểm
 Nghệ Thuật
 Quốc Nội Đấu Tranh
 Hải Ngoại Đấu Tranh
 
Nghệ Thuật
 
 
Nước Việt Online
   Bài Lưu Trữ
 Ban Biên Tập
 Mục Lục Tác Giả
 Liên Lạc NV Online
 Cách Vượt Tường Lửa
 
Diễn Đàn Nước Việt
 
 
 
5-8-2008 -- Văn Học
Văn Học Hải Ngoại
nhìn từ một Giải Văn Học



Bs Nguyễn Đức Liên


Tiến trình phát triển các xã-hội chứng tỏ rằng: Văn-học là cánh cửa mở ra, đưa tập thể Dân-tộc lên Văn-minh. Nền Văn-minh xán lạn sẽ, tựu trung, trao lại cho Người Dân cái khả năng xây dựng xã-hội và đời sống có phẩm chất tương xứng với các đặc tính và chức năng văn hóa của Dân-tộc đó. ....

Nguyễn Đức Liên

I. Giải Văn Học Quốc Tế Y Sĩ, từ nay viết tắt “GVH QTYS”, bắt đầu thiết lập tại Đại Hội kỳ IV Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do, Paris, 2000. Giải kỳ I, 2000-2002 với 158 tác-phẩm dự tranh, trao tại Đại Hội 5, Annaheim, CA Huê-kỳ. Giải kỳ II, 2002-2005 thành phố Sydney, Australia ngày 30 tháng 12, năm 2004, ky với 109 tác-phẩm. Kỳ III 114 tác phẩm. Chỉ kể các con số tác-phẩm hợp lệ của mỗi kỳ.

Giải kỳ III, 2005-2008 trao trong Lễ Khai Mạc Đại Hội kỳ VI Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do, tổ chức tại Jan Jose, California, Hoa-kỳ, Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008.

II. Mục Tiêu Giải Văn Học. Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do (viết tắt QTYS) qua 3 kỳ trao giải vẫn giữ nguyên mục tiêu duy nhất: góp phần quảng bá các tác-phẩm chủ yếu viết bằng Việt-ngữ in tại hải-ngoại, kể từ năm 1975 tới nay, đã hoặc chưa xuất bản.

Đòi hỏi nơi các tác-giả : chưa từng tham gia chế-độ chà đạp quyền sống của Người Dân, hay dự phần vô tội ác hủy diệt Sự Sống. Tác-giả giữ bản-quyền Sách trúng Giải. Tác giả có thể nhận sự hợp tác của Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do ấn-hành tác-phẩm trúng giải như đã thực-hiện với tác-phẩm Đường Ta Đi, kỳ II 2005.

III. Hội Đồng Tuyển Lựa. Ban Giám Khảo(1) gồm các nhà-văn uy tín. Không một thành viên nào, cả ban lãnh đạo Hội lẫn Ban Tổ Chức Giải Văn Học, làm công-tác phê Văn, bình Sách các tác-giả gửi tới. Tất cả các Giám Khảo chấm điểm 3 kỳ trao giải là những nhà-văn và học-giả có văn-nghiệp và uy tín cao nhận lời mời của Ban Tổ Chức. Không vị nào là đoàn-viên điều-hành Hội Quốc-tế Y-sĩ, không giám khảo nào là người trong cơ-chế lãnh đạo, hay ban tổ chức Giải.

Niềm vinh-hạnh cho GVH QTYS là được các Nhà-văn uy-tín trên Văn-đàn, đại-chúng quí mến yểm trợ công-việc bình điểm. Nhà văn Võ Phiến, nhà văn Doãn Quốc Sỹ; các học-giả lão thành, cố GS Nguyễn Khắc Hoạch, GS Bùi Xuân Quang, GS Nguyễn Quý Bổng, nhà phê-bình Văn-học GS Nguyễn Hưng Quốc, học-gỉả Trần Văn Tich, BS Nguyễn Tường Bách, BS Nguyễn Mạnh Tiến, giáo-sư Trần Gia Phụng, nhà văn Trương Anh Thụy, ... vì tấm lòng thiết tha với tiền đồ văn-học, quí vị đã nhận lời mời, mỗi vị đọc hàng trăm tác-phẩm văn-thi-giới gửi tới dự tranh.

Nếu coi là đã thực hiện 3 kỳ trao giải thì công trình này kết tinh từ 3 thành tố lớn gấp bội:

1. Sự yểm trợ quảng đại của các Nhà-văn và Học-giả nhận lời mời đảm trách công tác bình điểm và xếp hạng các tác-phẩm. Công Sức của Quý vị không biết lấy gì đền đáp, Hội Y Sĩ tạc dạ ghi ơn.

2. Văn-thi giới Tự-do ngay từ ngày tới Đất Tự Do đã bắt đầu sự-nghiệp sáng-tác, viết và in, thiết lập nên nền văn-học hải-ngoại hùng hậu cả phẩm lẫn lượng sơ lược trong mục IV.

3. Các mạnh-thường-quân đóng góp công lao, thời giờ và tài-chánh giúp Hội Y Sĩ tiến hành 3 kỳ trao Giải, Giải kỳ I, Giải kỳ II và kỳ III, mà không phải xử dụng tới quỹ Hội.

IV. Nền Văn Học Nhìn Qua Con Số. Là 1 y-sĩ tị-nạn dự phần tổ-chức Giải Văn Học Quốc Tế Y Sĩ từ 2000 tới nay, người viết ghi lại một vài đặc-trưng của thị-trường sách-in trong Cộng-đồng Người Việt hải-ngoại.

Số Tác Phẩm viết và in tại hải-ngoại. Ghi nhận 2 nguồn thống-kê, nhà văn Nguyễn Vy Khanh, Canada, và Mặt Trận Kháng Chiến đã ấn-hành tài liệu kiểm-điểm Văn-học Tự-do dịp kỷ-niệm 20 năm Tị-nạn tới Hải-ngoại. Hai tài-liệu duyệt qua những tác-phẩm đã in, nhưng chưa liệt kê danh-mục (tựa đề) Sách phát hành. Đa số tác-phẩm in ở thời gian 20 năm đó không có trong thống-kê.

Nhà văn Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, 3 cuốn, kiểm điểm văn-học-phẩm Miền Nam 1954-1975, và hải-ngoại, 1975-1999. Sách phê bình văn-học, không bao gồm tất cả tác-giả và tác-phẩm.

Lấy tin từ các nhà-xuất bản và tiệm Sách Việt-ngữ. Không nơi nào đưa ra một thư-mục. Mỗi chủ-nhân cho một ước-lượng. Số ước-lượng Sách do hải-ngoại viết và in, từ 1975 tới 2007, nơi nói sáu chục ngàn. Nơi khác, 30,000. Chục ngàn tác-phẩm do các cây bút tự-do thực hiện từ 1975 tới nay, bầy bán tại các tiệm-sách. Có tác-phẩm tái bản nhiều lần, đều đã hết. Nhưng đó lại vẫn chỉ là số ước lượng. Cần thư-mục và phê-bình văn-học để giới thiệu sách hay cho quần chúng.

Trong khối lượng sách viết và in tại hải-ngoại, đa số tác-phẩm biên-khảo hay thơ văn được tác-giả phát-hành. Nhiều bộ sách cũ in lại cốt ý bảo toàn kho tàng văn-học mà chế-độ cộng-sản quốc nội cố-tình tẩy xóa. Ngoài ra, nhiều người viết sách với chủ-đề và nội-dung xây dựng thiết thực nhưng không phổ biến cho đại-chúng. Ông Đặng Vũ Nhuế, cùng nhiều tác-giả khác, viết sách về văn-học, nghệ-thuật, kinh-tế, chính-trị đông-tây; đề-tài tới nội-dung giá-trị cao, thuận tiện quảng bá, nhưng tác-giả không bán, giữ tặng bạn bè, gửi cho các Thư-viện, Thư-viện Quốc-hội Huê-kỳ.

Thư Loại.

· Sách Khảo Cứu về Văn Học Việt Nam.

· Lịch Sử, Giáo Dục, Văn Chương, Triết Học, số khá lớn những tài liệu viết bằng Hán-tự hay Hán Nôm, viết lại bằng quốc-ngữ la-tinh. Những tác-phẩm, kể từ tài-liệu văn-học, lịch-sử, cả đến truyện chưởng kim-dung, .. bị cộng-sản tẩy xóa, xuyên tạc, hủy hoại từ khi vơ vét được ở Miền Nam. Khá nhiều nguyên-bản của Sách Cũ được hải-ngoại in lại, lưu giữ.

· Khảo cứu về chế-độ cai-trị hành chánh, chánh trị, xã hội thời cận-đại và hiện-đại.

· Đặc biệt, những hồi-ký, truyện kể, thơ phổ nhạc, ... nói về thảm cảnh tù đầy, vượt biên, hiện trạng suy thoái xã-hội Việt-nam sau 1975, hàng ngàn cuốn sách viết về tội ác chế-độ cộng-sản. Tác-giả chưa viết văn hay in sách, nay tới hải ngoại thuật lại kinh-nghiệm bản thân, những cảnh tượng nhìn thấy hoặc chính mình là người trong cuộc.

Văn Phong và Ngữ Thuật.

Các cây viết hải ngoại giữ lối hành văn chững chạc của sách giáo-khoa và tác-phẩm văn-học. Các tiếng mới đặt ra tại Miền Nam từ 1975 xuất hiện trong sách in hải-ngoại, phần nào được người đọc chỉnh đốn, phê phán trên các diễn đàn internet. Từ-ngữ khẩn trương, tư-duy, dùng đúng lúc đúng chỗ, hàm nghĩa khác với tiếng dùng tại quốc nội. Hồ hởi, phấn khởi, ... it người viết. Tiếng “vất” (vất thay cho vất vả) không khi nào thấy trong Sách hải-ngoại. Nhiều tiếng lóng, tiếng tục in bừa bãi (sách, báo, internet quốc nội) bị văn-đàn hải-ngoại loại trừ. Cái hay, lưu giữ được lối viết, văn phong và cú-pháp gây ảnh hưởng tốt cho người viết sách quốc nội. Tác-giả Võ Văn Trực “truyện làng ngày ấy”, không để lẫn vô các từ ngữ thuộc loại hồ hởi phấn khởi đặt ra sau 1975. Tất nhiên, hoàn cảnh hội-nhập khiến cho một số tiếng mới (dù là tài-liệu giáo-khoa) ít thấy trong sách hải-ngoại (1 trong các đặc-tính ắt có của ngôn ngữ). Nhà văn Nguyễn Hưng Quốc thuật lại sự khác biệt đáng kể về những tiếng xử-dụng giữa đồng-hương Quảng-nam tới Pháp truớc và Quảng-nam sau 1975.

Nói chung, số lượng Sách Việt-ngữ lên tới cả chục-ngàn cuốn cho một cộng-đồng 2 triệu rưỡi người tản mát giữa các nuớc tự-do, là một thành-quả văn-học đồ sộ trong lịch-sử văn-học.

V. Phát Triển Chức Năng.

1. Văn Học và Y Giới.

Kể từ ngày thành lập, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do đã phát hành trên hai chục tác phẩm dù y-giới không sở trường văn-học. Và trong cùng quan-điểm với Cơ Quan Y Tế Quốc Tế, chúng tôi nhìn nhận ba trong 4 địa hạt sinh hoạt thể hiện các phẩm chất cốt yếu của Đời Sống gồm 1. thể trạng cảm nghiệm tuyệt hảo về thể xác, 2. niềm hân hoan phấn chấn trong tâm linh và 3. cơ may phát triển ngoài xã-hội, có tính văn-hóa. Chỉ trừ trạng thái vô bịnh là ở ngoài địa hạt văn học, ba đặc tính kia (1, 2 và 3) đều là những yếu tố làm nên định nghĩa Sức Khỏe (WHO) và là phó-sản văn-hóa gắn chặt với mức phát-triển của nền văn-minh nhân-loại.

... “Lịch sử đã muốn rằng, chúng ta, những người Việt-nam tị nạn cộng sản cũng có một nền văn học lưu vong”. Cộng đồng Người Việt Tự Do hải ngoại đã bắt tay, và không ngừng phát huy văn học Việt-nam, nhân bản và dân-chủ, kể từ ngày đặt chân tới đất tự do. Hội Y Sĩ lấy việc quảng bá, góp phần phát triển Văn-học làm một trong những tác-vụ thăng tiến nếp sống Người Việt Hải Ngoại, giúp giải trừ chế độ cộng sản, bênh vực và phát huy nhân quyền. Đây là 2 trong 3 mục tiêu ghi trên hiến chương lập hội được Đại-hội I biểu quyết thuận không phiếu chống tại Montréal 1987.

Bởi vậy, Hội QT Y Sĩ ước mong hết thẩy Người Việt tị nạn tới đất tự do, không riêng giới cầm bút chuyên nghiệp mà thôi, nỗ lực hơn nữa viết, in Sách, dành tiền mua Sách, dành thời giờ đọc sách, viết văn. Mỗi Gia-đình đều có tủ-sách, Việt-ngữ và tiếng địa-phương. Các Hội đứng ra tổ-chức Giải Văn Học. Từ điểm nhìn sinh-học khách quan thì những nỗ lực Văn-học Tự-do đã và đang phát triển trong cộng-đồng hải-ngoại 30 năm qua chính là phản ứng sống, tự nhiên của hàng triệu Người Việt hiền-hòa thách đố cái chết, vượt vòng kềm tỏa của chế độ độc-tài cộng sản, tới đất tự do, phục hồi phong cách phát triển đã có, bình thản ngồi kể lại câu truyện đời mình.

2. Giải Văn Học.

Giải Văn Học Quốc Tế Y Sĩ (GVH QTYS) do Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do thiết lập từ Đại Hội 2000, Đại Hội Đồng biểu-quyết thuận, tiến hành trôi chảy qua 3 kỳ, I, II và III. Giải thực hiện được, phần quan trọng nhất là nhờ sự hỗ trợ quí báu của các vị giám-khảo ân-nhân 1, gây tín nhiệm nơi các tác-giả khắp cộng-đồng Người Việt Tự Do trên thế-giới. Kỳ I có 4 Giải, trao tại Đại Hội IV Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do, 2002. Giải kỳ II thành lập sau đại-hội Anaheim 2002. Lễ Trao Giải diễn ra ngày 28, 12, 2004 tại thành-phố Sydney, convention center, như dự liệu. Giải Kỳ III được biết có 5 tác-phẩm trúng giải, sẽ trao tại Bắc California vào Lễ Khai Mạc đại hội VI, Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do ngày 9 tháng 8, 2008.

Giải Văn Học QTYS Kỳ I

Sau sáu tháng đăng Thông Cáo Mời Tham Dự, Nov. 2001 đến giữa Apr., 2002, ban tổ chức nhận được 158 tác phẩm do 80 tác giả gửi tới, 147 tác phẩm hợp lệ: 14 từ Australia, 17 Canada, 14 France, 2 Germany, 1 Holland, 10 Norway, và 89 tác phẩm từ USA.

Đa số đề tài dự tranh kỳ I là ký sự và biên khảo. Kế đến là văn-chương thơ, truyện, triết-học.

. Hội Đồng Tuyển Lựa Giải Văn Học Quốc Tế Y Sĩ Kỳ I:

1. Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, California Huê-kỳ

2. Giáo Sư Nguyễn Quý Bổng, Canada

3. Cố Giáo Sư Nguyễn Khác Hoạch, California Huê-kỳ

4. Giáo Sư Bùi Xuân Quang, Paris, France

5. Bác Sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Sydney Australia

6. Bác Sĩ Trần Văn Tích, Bonn, Germany

Điều hợp Công-tác Tuyển-lựa và Bình-điểm: Bác sĩ Trần Văn Tích, Germany.

Trưởng Ban Tổ Chức Kỳ I: Bác Sĩ Trần Ngươn Phiêu, USA. BS Nguyễn Đức Liên, điều hành.***

. Tác Phẩm Trúng Giải Kỳ I, trao tại Anaheim, 10 tháng 8, 2002, gồm 4 Giải mang tên các Đại-hội quốc-tế trước.

Án Tích Cộng Sản Việt Nam, nhà văn Trần Gia Phụng. Tài liệu ghi chép các dữ kiện thuộc về lịch-sử. Những tội ác: thủ tiêu hàng ngàn tí-đồ các tôn-giáo, các đảng chính trị không cộng sản. Cải Cách Ruộng Đất theo lệnh Liên-xô - Trung-cộng. Nhân Văn Giai Phẩm. Các đợt thảm sát hàng loạt lương dân do Đảng và Chánh-quyền Cộng Sản ra tay chủ ý trấn áp, cướp bóc, tuyên truyền. Tác Phẩm Án Tích Cộng Sản Việt Nam do giáo-sư Trần Gia Phụng trúng giải “Văn Học 2002”

Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng công trình biên khảo nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bài viết công phu một cá-nhân không làm nổi. Tác-giả viết thành thể loại truyện kể cho gần gũi dễ gặp người đọc. Nhà văn Ngô Thế Vinh nêu lên mối đe dọa cho sự sống còn của Á-châu, Đông-nam-á và Thế-giới. Sách cảnh báo cho thế-giới hiệu-quả tàn phá môi-sinh đe dọa 150 triệu người thuộc các dân-tộc hạ-lưu sông Mékong lân bang với Trung-hoa.

Tác Phẩm Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng của bác sĩ Ngô Thế Vinh trúng giải “Montréal 1987”. Montréal 1987, Đại Hội Montréal thành lập Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do

Việt Nam Thắng và Bại Tác giả Lê Quế Lâm tường thuật khách quan tỉ mỉ mọi biến cố Việt Nam cận và hiện đại. 1170 trang sách thâu thập 20 năm kinh nghiệm, 15 năm ghi chép và suy tưởng, kể cả thời gian tù cải tạo, rút từ thực thể các chế độ liên hệ tới cuộc chiến dài 30 năm trên bán-đảo Đông-dương. Tác Phẩm Việt Nam Thắng và Bại của nhà văn Lê Quế Lâm trúng giải mang tên “Los Angeles 1989”ghi dấu Đại Hội Quốc Tế thứ nhì, Los Angeles,

Việt Nam Khát Vọng Dân Chủ Tự Do. Nhà văn Nguyễn Chí Thiệp, một viên chức được đào tạo cho việc quản-trị xã-hội Miền Nam. Năm 1975, tác-giả quyết tâm ở lại, 13 năm tù cải tạo, chiêm nghiệm, suy tư, sống và viết về những đau thương mất tự do mất quyền làm dân, quyền làm người dưới một chế độ cai trị nhân danh dân-chủ tự-do để tước đoạt và chà đạp sự sống và tự-do dân-chủ của cả một dân tộc. Việt Nam Khát Vọng Dân Chủ Tự Do của nhà văn Nguyễn Chí Thiệp trúng giải “Paris 1991”. Đại-hội QTYS kỳ III tổ chức tại Paris năm 1991. Liên-bang Xô-viết và thế-giới cộng sản sụp đổ tháng 8,1991. Cơ chế pháp lý của Hội Quốc Tế Y Sĩ hoàn thành tại Paris 08/91.

Giải Văn Học Quốc Tế Y Sĩ Kỳ II

. Tác-giả và Tác-phẩm. Có 109/111 tác-phẩm hợp lệ. Bộ Sách nặng nhất 8 kilô, Việt Sử Khảo Luận, luật sư Hoàng Cơ Thụy biên soạn. Kế đến, Tam Quốc Chí Việt Nam, BS Phạm Nguyên Lương biên soạn, 1600 trang khổ lớn. Năm 2004, các nhà văn Nữ chiếm tỉ số thấp nhưng tác phẩm rất ư bề thế. Nữ sĩ ĐML, Houston gửi 4 tác phẩm. Nhà Văn Trương Anh Thụy, truyện dài 750 trang.

. Thể Loại: 20 tác-gỉa gửi 26 tác-phẩm viết về Thơ, 13 tác-giả gửi 16 tác phẩm Tự-truyện, Hồi ký; 19 tg/22 tp Khảo-cứu; 2 Kịch; 12/17 Tiểu thuyết; 13/18 tuyển tập Truyện ngắn.

. Xuất Xứ các tác-phẩm ghi danh kỳ II, 2004. Bảy mươi tám (78) tác-giả gửi 111 tác phẩm: Australia, 11; Canada, 24; France, 5; và USA, 71.

. Hội Đồng Tuyển Lựa & Bình Điểm Giải Kỳ II

1. Nhà Văn Võ Phiến, California Hoa Kỳ

2. Nhà Văn Phan Lạc Phúc, New South Wales Úc-châu

3. Nhà Văn Trần Gia Phụng, Ontario, Canada

4. Nhà Văn Nguyễn Hưng Quốc, Victoria, Úc-châu

5. Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Texas Hoa Kỳ

6. Bác Sĩ Trần Văn Tích, Bonn, Đức-quốc

Điều hợp công tác Tổ Chức & Tuyển Lựa:

Bác Sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Sydney, Australia

Trưởng ban tổ chức: Bác sĩ Nguyễn Đức Liên, Hoa-kỳ.

. Lễ Trao Giải Kỳ II, 28 tháng 12 năm 2004.

Gồm 2 Giải, 1 Giải cho sáng tác phẩm thuộc thể-loại văn chương, và 1 cho tác phẩm biên-khảo. Tổng kết bảng bình điểm của Hội Đồng Tuyển Lựa, các tác-phẩm trúng trên Phiếu Điểm gồm có :

Bộ môn biên khảo, Giải nhất cho tác phẩm: Văn học Hiện đại và Hậu hiện đại qua Thực tiễn sáng tác và Góc nhìn lý thuyết, Tác giả : Hoàng Ngọc-Tuấn

Bộ môn sáng tác không có tác phẩm trúng Giải Nhất

Hai giải nhì đồng hạng:

· Tác phẩm: “Đường Ta Đi”, Tác giả : Nhà văn Đặng Đình Túy, và

· Tác phẩm: “Chuyển Mùa”, Tác giả: Nhà-văn Trương Anh Thụy

Một giải Danh Dự về biên-khảo không sắp hạng:

· Tác phẩm: “Việt Sử Khảo Luận”, Tác giả: (cố) LS Hoàng Cơ Thụy

Giải Văn Học Quốc Tế Y Sĩ Kỳ III sẽ trao tại Bắc California vào Lễ Khai Mạc đại hội VI Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do ngày 9 tháng 8, 2008. Chi-tiết, thống kê, và kết quả sẽ phổ biến buổi sáng ngày 9 tháng 8, 2008 trong nghi-thức Khai Mạc Đại Hội & Lễ Trao Giải Văn Học.

Tác Giả / Tác Phẩm ghi danh. Có 114 tác phẩm hợp lệ.

Hội Đồng Tuyển Lựa:

1. Giáo Sư Nguyễn Quý Bổng (Canada)

2. Giáo Sư Bùi Xuân Quang (Pháp)

3. Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ (Hoa-kỳ)

4. Nhà Văn Trương Anh Thụy (Hoa-kỳ)

5. Bác Sĩ Nguyễn Mạnh Tiến (Úc-châu)

Trưởng ban tổ chức, Bác Sĩ Cấn Thị Bích Ngọc

Điều hợp & Liên-lạc, Bác sĩ Phạm Hữu Trác.

Tác-giả - Tác Phẩm Trúng Giải kỳ III.

Giải Biên Khảo: có 3 tác-phẩm được trao tặng Giải Đồng Hạng:

Nhà Văn Hoàng Xuân Chỉnh (Huê-kỳ) với tác phẩm “Từ Điển Nhân Danh - Địa Danh – Tác phẩm văn học nghệ thuật Trung quốc“.

Nhà Văn Thái Công Tụng (Canada), “Việt Nam Môi Trường và Con Người”

Luật sư Trịnh Quốc Thiên (Huê-kỳ), “Những biến cố mất lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam từ 939 đến 2002”

Giải Sáng Tác. 2 tác giả trúng Giải “tác phẩm sáng tác” đồng hạng:

Nhà Văn Nguyễn Tường Thiết (Huê-kỳ), “Nhất Linh Cha Tôi” và

Nhà Văn Võ Thị Điềm Đạm (Na Uy), “Hương Chanh”

Lễ Trao Giải: 10:30 sáng Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008 trong Lễ Khai Mạc Đại-hội VI Quốc-tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do, khách sạn Fairmont, San Jose, California, Huê-kỳ.

VI. Đặc Trưng Văn Học Hải Ngọai.

Con Số Tác Phẩm trên số dự tranh. Có 381 tác-phẩm hợp lệ, 3 kỳ trao Giải trong 8 năm. Đây chỉ là khoảng 1 phần trăm (1/100) số tựa đề sách ấn hành tại các Cộng Đồng Người Việt mấy nước Bắc Mỹ, Canada, Pháp, Úc, Anh, Đức, Hòa Lan, Na Uy, Nhật. Tính ra, hàng chục ngàn cuốn sách in trong 33 năm. Số lượng đáng kể cho 1 cộng-đồng thiểu-số dưới 3 triệu người (2). Sách do Ngưòi Việt Hải-ngoại in ấn trội vượt số tác-phẩm cả chế-độ cai-trị quốc-nội cho in trong 20 năm xã hội chủ nghĩa cộng thêm 33 năm cai trị từ Bắc chí Nam(3). Khối lượng lẫn phẩm chất Sách Báo phát hành tại quốc-nội thua xa tác-phẩm văn-hóa (phẩm lẫn lượng) của Miền Nam Tự Do trước 1975. Văn-học phẩm Việt-nam Tự-do hải ngoại kể từ 1975 tới nay, còn sung túc cả về phẩm và về lượng hơn thời-kỳ trước 1975 nhờ bối cảnh thời sự gay gắt, xúc tác văn-hóa thuận lợi và phương tiện in ấn dồi dào vừa trình bầy ở mục IV, và những bất ngờ dưới đây.

Nhìều Sách viết với nội dung thời cuộc. Thảm cảnh chiến tranh chiếm phần ưu thắng trong mọi thể loại, từ văn-chương (tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn, ký sự; tùy bút, tạp văn) tới các bộ môn biên khảo. Hàng triệu người sống sót nửa thế-kỷ chiến tranh quốc cộng, cải tạo tù đầy. Miền Nam bị cộng-quân tàn phá kể từ 1960 tới khi bị CS chiếm. Nhân-lực chịu tủi nhục, rồi hủy diệt. Cảnh cướp bóc thô bạo. Con Người khao khát tự-do, thách đố cái chết, tới được bến bờ thay vì ngồi kể lại cho con cho cháu, đã bỏ công viết thành Sách, thanh thản câu chuyện về cuộc đời mình đã trải qua.

Những Bất Ngờ.

Với trên 2 triệu người Việt tản mát trong nhiều quốc-gia tự-do, người viết từ 5 lục-địa không hẹn mà gặp: chú trọng tới thư loại, nội-dung và chủ-đề; cùng nói lên các ý-nghĩa văn-học thời sự :

Thuận Lợi ...

Chữ “quốc ngữ” viết bằng mẫu tự La-tinh giúp duy trì mối liên hệ văn-hóa, xã-hội, chính-trị qua Sách Báo việt-ngữ do Người Việt ấn hành, trao đổi và phổ biến rộng rãi khắp thế-giới, dễ dàng. Nhờ chữ quốc-ngữ phổ cập, các cộng-đồng Người Việt Mỹ, Âu, Á và Úc-châu nhiều nơi có tiệm Sách. Nhiều tập-thể có báo chợ. Thành-phố Atlanta, 60 ngàn Dân 7 tờ Tuần-báo. Atlanta Việt Báo phát hành song ngữ. Quốc-ngữ “la-tinh” quả đã thông-dụng toàn cầu. Thuận lợi to lớn nhất.

Hàng chục ngàn cuốn sách, in ấn dễ dàng. Tác-giả có thể in Sách cho chính mình. Trang bị máy điện-toán, máy in với nhu-liệu việt-ngữ VPS, VNI hay Unicode, tốn chừng 1 tháng lợi-tức-xổi của một người tốt-nghiệp Đại-học. Đem cuốn sách 300 trang ra nhà in, tốn 2 tháng tiền lương hoặc số tương đương với nửa chi phí cho một chuyến du-lịch thăm quốc nội.

Nguồn Động Lực Thôi Thúc, Viết và In. Đi kiếm cuốn sách viết về Nho Giáo tại các tiệm sách California, quí vị ngạc nhiên đọc nhiều sách “Nho Giáo” do các tác-giả tự xưng “giáo sư”, “tiến si” viết. Hà-nội sai giới văn-công cộng-sản đem Duy-vật Biện-chứng cài đặt tư-tưởng Mác-Lê vô sách nhà-nước tái bản nhằm giải-thích và xuyên tạc tư-tưởng Nho-gia của 25 thế-kỷ quân-chủ chuyên-chế, duy-tâm và duy-lý. Văn-hóa Hán thâm thúy về nội-dung, quyền-biến về ứng-dụng xã-hội, tác dụng sâu và cao hơn học-thuyết Marx-Engels, một trời một vực nay bị bóp méo thô bạo.

Người hải-ngoại nhìn thấy tai-họa xuyên tạc lịch-sử và dụng ý bẻ cong văn-học chính-truyền.

Nhiều nhóm hoặc cá-nhân đi tìm Sách Cũ, in lại nhằm bảo tồn nội-dung và văn-phong của các nguyên-bản. Nhờ nỗ lực cá-nhân, tác-phẩm văn-học và lịch-sử chính truyền tồn tại, lưu giữ mãi. Đảng việt-cộng dứt khoát sẽ thất bại dù cố công pha trộn các giá-trị văn-hóa chính thống với mớ tư-tưởng Mác Lê. Chế-độ độc đảng thống trị trước sau không chối nổi tội nô lệ ngoại bang, tẩy xóa tang chứng bán nước của Đảng Cộng-sản khi chính họ ngụy tạo chiến tranh giải phóng, nhằm phục-vụ chủ-trưong bành trướng Cách-mạng Vô-sản Quốc-tế, lừa gạt Dân Tộc Việt Nam.

Bất Ngờ Khác ..

Thiếu Người Đọc. Sách tốt, sách nhiều nhưng thiếu Người Đọc.

Thiếu người mua sách, người viết sách khó cảm thấy sức hút của văn-học. Điều này là lý-do thúc đẩy Hội Y Sĩ tổ-chức Giải Văn Học cho dù văn-học không thuộc sở trường Y Giới. Sách tốt thiếu Người Đọc. Bắt mạch được nhu cầu có thêm người đọc, cơ-quan kiều vận luồn dưới gầm bàn rình rập, giao liên nhóm thiên cộng vùng New England phát lập chương-trình “học-bổng”, mướn học-giả đảng viên từ Hà-nội phái qua và chiêu dụ những nhà-văn hải ngoại đang cần thêm người đọc.

Quả nhiên, một số nhà-văn chống-cộng viết Sách (thiếu người mua) sập bẫy. Vì sập bẫy mà ghi tên vô chương-trình học-bổng do NGO WJC tổ chức những năm 90s.

Chủ-điểm WJC là bôi bác mục-tiêu tìm tự-do Người Việt liều chết trốn khỏi chế-độ cộng-sản.

Kể từ cái tên, Học-bổng văn-hóa WJC đã khinh thị lộ liễu:“tái tạo diện mạo lai-lịch lũ người việt tha phương, Reconstructing Identity of the Vietnamse in Diaspora. Từ ngữ “người việt tha phương, vietnamese in diaspora” do WJC đặt ra, cốt ý máng theo cái nội-dung “đĩ điếm, bơ thừa sữa cặn” lên cộng-đồng gần 3 triệu Công Dân Việt Nam dũng cảm(4) từ bỏ thiên-đường XHCN, liều chết, tự do hay là chết, đổi mạng sống lấy 2 chữ Tự Do. Chế-độ cộng-sản tránh né danh-xưng người Việt-nam tị-nạn chánh-trị. Việt-cộng lấy tư-cách gì dám cả gan tái tạo lai lịch Người Việt Tự Do ?

Chương-trình WJC thất bại trong cả 2 chủ-điểm, miệt-thị lẫn tuyên-truyền. Đoàn lữ hành 2 triệu rưởi Người Tị Nạn đường ta, ta đi. Hàng tỷ mỹ-kim “lũ người lang thang (sic) hàng năm gửi về cho thân nhân, cứu-đói. Nền văn-học hải-ngoại với số ấn-hành và giá-trị văn-học nhân-bản áp-đảo thị-trường sách báo quốc nội, đã hùng hồn nói lên điều chánh nghĩa.

Người Tị Nạn tự chứng minh tầm vóc sức mạnh và giá-trị văn-hóa của mình.

Thách Đố Hoàn Cảnh và Thời Sự.

Đa số Sách viết và in tại hải-ngoại hình thành dưới những thôi thúc nội tâm. Tác-giả cảm thấy bổn-phận phải viết. Viết lại ký-ức đau thương, bộc lộ những suy-tưởng nén ép vì thời sự, “Án Tích Cộng Sản ..” Trần Gia Phụng, “Khát vọng Dân Chủ Tự Do” (Nguyễn Chí Thiệp), Việt-nam Thắng và Bại (Lê Quế Lâm) ... và tầm nhìn sâu thẳm vô tương-lai đất nước, Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, .. Ngô Thế Vinh.

Có người tự nhủ khi ra đi, tới đất tự do để viết. Viết vì bổn-phận khoác lên vai. Viết để vạch trần sự thật gian dối, một giai-đoạn hoang loạn của lịch-sử, thần dối-trá ôm khư khư quả táo Sự Thật 5. Cũng nhiều người viết, nhằm quảng bá cái hay, cái đẹp của Văn-hóa Việt-nam, chia sớt cho nền văn-học xã-hội mình đang hội-nhập, Tết, GS Nguyễn Ngọc Bích, hay Luận Về Ngôn Ngữ GS Diệu Tần, Một Trăm Năm Phát Triển Tiếng Việt, tác-giả Phùng Minh.

Những năm đầu, vì phải đối diện với thực tại của cuộc sống, người tị-nạn cố gác sang bên những ký-ức đau buồn, dành sức thực hiện nhu cầu định cư. Khi hoàn cảnh lập-nghiệp tạm ổn, giới thức-giả tị-nạn quay sang sáng tác và xuất bản. Ách thống-trị phi nhân, thủ đoạn bóc lột để thống trị của chế-độ VC không vùi lấp nổi nhận-định sáng suốt, ý-chí cang-cường của Người Việt Tự Do dù cho NQ 36, cho sở kiều vận quốc nội có trải tiền, tung người mua chuộc.

Ngỡ Ngàng Trước Giá Trị Văn Hóa “Nước Chủ Nhà”

Chưa có nhiều tác-giả viết để phục vụ nhu-cầu phát triển của Cộng-đồng vừa tới hải-ngoại. Những đặc tính văn-hóa của Tây-phương chưa được lượng giá và áp dụng đúng mức. Người tị-nạn nhập cư chưa thấm nhập, chưa biết cách xử dụng khí cụ văn-hóa tây-phương để giải quyết những khó khăn hội nhập cần vượt qua, chưa nhận diện trúng các ưu điểm xã-hội nước bảo trợ cung cấp cho mình, giúp giải tỏa những trở ngại để thành công trên quê-hương-mới.

Bắt đầu, thí dụ 1, lối xã-giao hàng ngày; lời cảm ơn hay xin lỗi, xuất ra từ cửa miệng người địa-phương, mau mắn lẹ làng khi va chạm với nhân-sự lân bang. Lối cư xử đó có khi bị chê khách xáo, hời hợt, xạo. Kỳ thực, “cảm ơn”, “xin lỗi” mở đường hợp tác, luôn có tác dụng tốt. Cần thực hành !

Xa hơn một chút, thí dụ 2 : vấn-đề kỳ-thị. Gặp tai nạn lưu-thông, ông cảnh-sát có vẻ thiên vị người địa-phương. Trẻ Việt và học-sinh địa-phương va chạm trong trường, trên xe buýt. Đáng tiếc.

Cọ xát chủng tộc mầu da. Nơi nào, thời nào không có ?

Làm cách nào cho các đoàn-viên cộng-đồng học hỏi và thực-hiện nếp sống văn-minh ? Then chốt cho vấn-đề là giải pháp “văn hóa”, tránh bù loa ăn vạ vài nhóm thiểu-số đã làm. Đào hố ngăn cách, đấu tranh không hiệu quả, còn làm suy giảm tư-cách văn-hiến đôi bên.

Xa hơn nữa, thí dụ 3: cả một tập thể rủ nhau áp lực đòi Hội-đồng thành-phố phải đặt tên “ tiểu saigon” cho khu thương mại gần nhà. Không đòi được thì biểu tình, viết thư bất tín nhiệm. Phong cách cư xử như thế có là bình thường cho truyền thống xã-hội tây-phương ? hậu quả nào sẽ đến cho tương-lai Cộng-đồng ? Sinh hoạt dân-chủ trên một nước theo chế-độ cộng-hòa cần ngừng lại ở ranh-giới nào ? Đại-chúng cần lắng nghe những lời hướng dẫn từ giới Văn-học và Luật-gia.

Một bước dài hơn, thí dụ 4. Câu hỏi “vì sao có lễ giỗ Tiến-sĩ Martin Luther King Jr.” Vì áp-lực chủng tộc ? vì sợ người Da Mầu nổi loạn chăng ?

Thưa, không vì sợ. Mục Sư Martin Luther King, Jr. (MLK Jr.) được tiếp nhận vinh danh sau khi ông đã sống và tranh-đấu trong cốt cách văn-minh Bắc Mỹ (6).

Tiến sĩ MLK Jr. là mục-sư Thiên-chúa-giáo. Ông quán triệt Văn-hóa Tây-phương, tiến-sĩ thần-học đại-học Boston. Luận-án nghiên-cứu của ông do triết-gia thần-học Paul Tillich bảo trợ. Tillich đậu tiến-sĩ đại-học Breslau, Germany; sau thế-chiến II thành giáo-sư Triết ở đại-học Harvard, Huê-kỳ. Martin Luther King theo gót Mahatma Ghandi. Ghandi tốt nghiệp luật-khoa đại học Oxford Anh-quốc năm 1888. Cả Paul Tillich lẫn Mahatma Ghandi đều đã “đầu thai” cốt lõi văn-minh tây-phương vô tim, vô óc tiến-sĩ King Jr.. Martin Luhter quán triệt thánh-kinh Cơ-đốc-giáo, văn-học Shakespeare. Ông hấp-thu King James Bibble, Tuyên-ngôn Lập-quốc Hoa-kỳ, và Công-Luật Anh-quốc.

Nếp suy tư và hành động của nhà lãnh đạo Nhân-quyền, Mục-sư Martin Luther King, Jr. đã xây-dựng trên mức-thang giá-trị và ý-niệm truyền-thống của xã-hội tây-phương có từ thời-lập-quốc.

· Tiến-sĩ King hiện thân nếp sống / hành xử cuộc đời theo mẫu mực Văn-minh Tây-phương.

· Hoàn cảnh gây ra 2 biến-cố, vụ ám hại và lý-cớ vinh danh Ông, đều chỉ là một và là cốt lõi văn-minh tây-phương, people united defeated, kết hợp để sống còn.

Bốn thí-dụ nhỏ trên đây dắt tôi đưa ra một đề-nghị: Để thành-công trên môi-trường hải-ngoại, người Di Dân cần quán-triệt tinh-hoa Văn-minh bao đời ngự trị trên nước chủ-nhà. Ước mong giới trí-giả tự-do của các Cộng-đồng Người Việt chỉ cho tôi thế nào là tập tục dân-chủ trên nước cộng-hòa Bắc Mỹ. Từ điểm nào bắt đầu phải đề cao những điều-khoản của Hiến-Pháp; tới đâu là ranh giới của hệ-thống Pháp-luật ? địa hạt nào là quyền quyết định của người Cử-tri ?

Lẽ ra, sách báo Việt-ngữ đã viết, đã bắt đại-chúng tị-nạn phải học thuộc, nhồi nhét vô đầu các điều cần làm khi tới Đất Tự-do. Người Di-cư suy cứu và thực hành những đặc-tính văn-hóa và tinh-hoa văn-minh nước chủ-nhà. Làm thế nào để hội-nhập thành công ? Gõ cửa ai để đặt câu hỏi : “ trong hoàn cảnh khó khăn đó, người địa phương thường giải quyết vấn-đề như thế nào ? ”.

Tin rằng những đề tài và nội dung chỉ cách cư xử, đem lại thành công trên đường lập nghiệp, sẽ lôi cuốn thêm nhiều đồng hương tìm mua Sách.

Nhưng tới nay, các nội-dung và chủ đề nêu trên chưa mấy ai viết.

Và, chỉ vì thiếu am tường văn-hóa tây-phương, thế-hệ tị-nạn thứ nhất phần đông cư-xử như đang sống ở quê-nhà, coi nước định-cư là Sài-gòn nối dài giống như đường Phan Đình Phùng nối dài từ Lê Văn Duyệt tới Lý Thái Tổ. Không nắm vững bí-kíp kinh-tế, tổ-chức xã-hội, không hiểu tinh-thần lập-quốc trên các Bản-văn Hiến-pháp Mỹ, Úc, Âu-châu. Người Tị-nạn sợ hãi khi bị cư xử khác biệt. Từ đó, lo âu, chán nản và thu nhỏ trong cộng-đồng thiểu-số của mình. Giới Trẻ tiêm nhiễm văn-học Pháp hoặc bị tẩy-não bởi tư-tưởng mác-lê, tới Bắc Mỹ, còn đinh ninh mơ mộng cuộc đổ-đời kiểu cách-mạng 1789 ! Ít ai tích-cực đầu tư vô cuộc sống văn-hóa nhằm quán triệt hoàn cảnh và nhu-cầu thực-tế của mình và gia-đình ngay trên xã-hội mình cần hội nhập.

VII. Kỳ Vọng từ Đại Chúng (ngoài giới viết văn).

Nhờ truyền thống văn-hóa thừa hưởng của tiền-nhân, đưa đẩy bởi hoàn-cảnh khắc-nghiệt của Lịch-sử, cộng đồng Người Tự Do đã lập nên một số thành-quả đồ-sộ về văn-học mà những cộng-đồng tị-nạn (Đông Dương) khác chưa hoàn thành được. Người viết thuộc đại-chúng người đọc, chưa xuất bả sách nhưng luôn giữ một điều xác-tín: văn-hóa là thành-tố to lớn nhất quyết-định tương-lai phát-triển Dân-tộc và cộng-đồng quốc-gia; không có con đường hiện-đại-hóa xã-hội nào hữu hiệu hơn con đường văn-minh-hóa Đất Nước cho đúng mục-tiêu, đúng hướng.

Văn Minh định đoạt tương lai phát triển. Khoa-học Kỹ-thuật chỉ giúp phương tiện làm việc.

Văn-minh là động-cơ chỉ đường cho xã-hội đi tới. Nó tạo sức mạnh (thể chất lẫn tinh thần) cho Người Dân trong tập-thể. Khoa-học - kỹ-thuật nẩy sinh từ trí-tuệ và kinh-nghiệm học hỏi. Kỹ-thuật hình thành và mang “hình ản” các đặc-tính của nền văn-minh, được Con Người xử dụng như công-cụ trên quá trình thực hiện các công trình phát triển. Khoa học - kỹ thuật tây-phương không sinh-ra văn-minh tây-phương. Cuộc cách-mạng khoa-học kỹ-thuật bùng “nổ” trên các quốc-gia Tây Âu, thế-kỷ 15 tới nay, là phó sản của nền Văn-minh các dân-tộc gốc Ấn Âu xây đắp qua nhiều thời-đại trong tiến trình sinh-hoạt, bao gồm cả những giai-đoạn hùng tráng của các cộng-đồng người Ấ Âu : Văn-minh Ai-cập, văn-minh Do-thái, văn minh Hy-lạp, La-mã, lẫn những thời-kỳ tăm tối lỗi lầm 4 thế-kỷ Trung-cổ và 3 trăm năm thực-dân đi cướp nước. Theo giới phân tách lịch-sử xã hội thì “không có thời Trung-cổ tội lỗi, chưa chắc cách-mạng khoa-học kỹ-thuật đã nấy sinh”.

Thực tế thời-sự ghi chép rằng: Nga, Nhật trước kia hay Trung-quốc ngày nay gửi chuyên viên đi học nghề; thuê cố-vấn quản trị thị-trường và kỹ-nghệ; mua trang bị kỹ-thuật mắc tiền đem về hiện-đại-hóa đất nước. Nhưng rồi coi, các quốc-gia này chỉ kiếm nổi cơm áo nuôi dân, tích lũy thêm vốn. Chung cuộc, họ vẫn sẽ làm mướn theo đơn đặt hàng văn-minh tây-phương ký cho; cho tới khi nào HỌ xây dựng được nền văn-hóa riêng mang cốt cách trội vượt các tinh-hoa văn-minh tây-phương. Kỳ dư, không bao giờ thoát khỏi lệ thuộc các đế-quốc có sức mạnh văn-minh tây-phương.

Đại-chúng đóng góp gì cho 2 nhu cầu trên đây, nhu cầu kiếnm vốn, và nhu cầu văn-minh-hoá ?

Trước hết, cần tăng cường khả năng văn-hóa của Cộng-đồng Dân-tộc, cái đã.

1. Động Cơ Sáng Tác Đích Đáng. Nhiều tác-giả viết vì nhu-cầu thôi thúc. Viết để bộc lộ cảm nghĩ sau thời chinh-chiến. Viết nói lên tội-lỗi của chế-độ bạo-tàn. Viết lên sự phản-bội của người đồng minh, và mô tả phần nào điều bất hạnh của cả một Dân-tộc dưới toan tính đổi chác tùy tiện vì quyền lợi các siêu-cường. Nhưng khi dồn nhiều nội dung vô pho sách dầy, Người Đọc khó theo kịp.

Bởi vậy, ai muốn viết cuốn hồi-ký thật nhiều trang “cho đáng mặt quyển sách”, cần suy nghĩ lại.

Mặt khác, nhà xuất bản nên tạo nên tập quán ham đọc cho Đại-chúng. Xây dựng tính-ham-đọc nhờ quá-trình nghe văn bình sách công sức của các nhà phê bình văn học trên radio, TV, giúp đại-chúng nhìn thấy những lợi ích cụ-thể do kiến-thức từ Sách Báo toát ra; tên các sách hay nên đọc.

2. Đọc Sách, Lợi Ích Gì ?

Người Việt Hải Ngoại lanh lợi, chăm chỉ, tiết kiệm, kiếm ra tiền nhưng lười đọc sách; ít mua Sách. Họ du-lịch tìm gặp bà con để giải-tỏa nỗi tù-túng nội-thân. Nhưng phần đông lười đọc.

Dân Âu Mỹ, Nhật, Đại-Hàn ngồi chờ máy bay, đứng trạm xe bus, ở trên xe-lửa, .. tay cầm sách đọc. Họ học cách kiếm tiền, thư dãn tâm hồn, tiến bộ nghề nghiệp, thăng tiến bản thân, .. qua Sách Báo ngay cả khi du ngoạn. Người mình ngược lại, chờ tàu thì nhòm TV hay ngủ gục, ít ai cuốn sách trên tay.

Tại sao Người Việt không thích đọc ? Văn-phong quá “nặng” chăng ? Nội-dung nghiêm khắc quá chăng ? hay vì Sách dầy, mấy trăm trang, bìa cứng, mang theo cực khổ.

3. Nhà Văn Hiểu Người Đọc.

Nội dung hấp dẫn. Văn-phong nhẹ nhàng. Lồng thêm vô tình tiết ly kỳ sinh-động. Người đọc vui, cầm cuốn sách trên tay, tiếp thâu thoải mái những hướng dẫn về hội-nhập. Người viết đó thành công. Cần nhiều cuốn Sách in mỏng, 1-2 trăm trang. Bìa láng, khổ nhỏ cầm theo, giắt túi áo khoác.

4. Chức Năng Tài Bồi Tiếng Việt.

Chữ Tầu, Nhật, Ấn, phải 5 – 7 năm chuyên-cần, nhận mặt chữ. Học được 5- tới 7 ngàn chữ lã sẽ đọc hết các Sách phổ-thông. Anh - Pháp đòi 8-10 năm, ngữ-vựng, văn-phong, quy-luật văn-phạm.

Học chữ Hán tuy lâu, nhưng lối viết chữ chủ hình (Hán, Nôm, ..) hay văn-phạm khúc-chiết (Pháp, Anh) là lợi-điểm vô-địch cho quá-trình văn-minh. Khi nhận mặt chữ và ôn tập văn-phạm, học-sinh trang bị vô đầu số vốn tri-thức - nghĩa của chữ, điển cố, cấu trúc câu văn - làm quen được từ khi học cách viết, và mẹo luật ngữ-vựng hay văn-phạm.

Chữ Việt học dễ và mau. Cần ít ngày, 33 chữ cái - 23 chữ la-tinh + 10 con số ả-rập - và cách ghép vần, thế là đọc được tất cả các chữ viết, phát cho thành âm giống hệt như tiếng nói (7) .

Thật quí giá: tiếng Hán và chữ Nôm khó nhớ, học chậm, thua xa Việt-ngữ về ưu-điểm này.

Nhưng nhược điểm của Tiếng Việt: đọc thành tiếng thì dễ. Nhưng nếu không viết chánh-tả, không đọc thêm bài, đọc nhiều sách báo, đọc hàng ngày, không say mê kiểu mê sách kiếm-hiệp Kim-Dung, ... thì sẽ chẳng hiểu ngữ-nghĩa của chữ viết, chẳng hiểu người viết nói gì nhất là các danh-từ trừu tượng. Đó là tình trạng Người Việt ra hải-ngoại không đọc Sách Báo. Lớn tuổi mắt kém, đeo kính mau mệt. Đề nghị: Sách in chữ lớn, khổ 12 Times New Roman trở lên, giúp quảng bá Việt Ngữ cho cộng đồng người tuổi cao, đỡ nhọc nhằn đôi chút. Phía Đại-chúng : cần mua và đọc Sách Việt-ngữ.

5. Địa Hạt Văn Hóa cần Khai Phá. Đây là thiếu sót đáng tiếc nhứt, trở thành trách nhiệm và có thể nói là cái nợ hay cái tội của giới trí-thức và văn-thi-giới may mắn tới hải ngoại 30 năm qua.

Hầu hết các sĩ-quan tù cải-tạo, trí-thức, chuyên viên, trạch chủ, chính-trị-gia, ... khi còn ở trại tù hay trước khi rời xứ đều tự nhủ “tới được hải-ngoại, sẽ làm chút gì đền ơn đất nước, chia sẻ với người ở lại”. Thì đây, thâu nhập tôi rèn các tinh-hoa văn-hóa năm-châu, gom góp san sẻ .. chính là nghĩa cử xây dựng quí vị đã hứa.

Quí vị từng hỏi: đặc tính văn minh nào đưa các dân tộc tây-âu lên văn minh hiện đại ?

Thực tế 33 năm qua vứt vả kiếm sống. Con em tới trường, học như trẻ địa-phưong: thầy cô cốt dậy hết chương trình cho học-sinh tốt-nghiệp. Cha mẹ đi làm về coi phim chưởng, films tình-cảm xã-hội Đại-hàn chuyển âm tiếng Việt. Hầu hết mù tịt về văn học và nếp sống văn-hóa của xã-hội mình đang ganh đua. Quí vị mấy ai đặt câu hỏi, và tìm ra câu trả lời “bằng cách nào, suy-nghĩ ra sao, tổ chức xã-hội khuôn mẫu nào Phương Tây phát-triển lên văn-minh hiện-đại-hóa trong 43 thế-kỷ lịch-sử. Trong khi Trung-hoa, có sử sớm hơn, vẫn lầm than đói khổ, lẹt đẹt theo đuôi Tây-phương ?

Anh và Đức tiếp thâu dịch-lý Trung-hoa. Quán-triệt dịch-học mà thiết-kế các nguyên-tắc tính-xác-xuất dựa trên tư-tưởng Dịch. Các trị-số xác-xuất học giả Anh va Đức tìm ra, đem in thành sách bằng chữ số ả-rập. Thành quả này chứng tỏ Tây-âu đã tiêu hóa được Dịch-lý. Họ giải mã ký-hiệu 64 quẻ dịch trong Hà Đồ Lạc Thư biến đổi chúng thành các định-lý toán-học áp-dụng cho ngành quản trị thương trường, khoa sinh-vật-học, ngành thống-kê Toán-học Tây-phương không “nói” lên được.

Văn-minh tây-phương ở ngay trong tầm tay của Ta. Ta có cần coi dịch-lý trung-hoa vô-địch, rồi gật gù thán phục trước tên tuổi các ông thầy viết lá số, bấm quẻ lục-nhâm, và tiếp tục chê Tây-phương dốt, nữa chăng ?

Trả lời những câu hỏi đặt ra, quí vị mở cánh cửa bước vô con đường văn-minh hiện-đại-hóa.

VIII. Trọng Tâm Công Tác Văn Học.

Nói chung, tổ-chức y-giới không sở trường văn-hoc, với con số tác-giả và tác-phẩm ghi danh 3 kỳ trao giải lên tới hàng trăm. Công trình sáng tác và biên-khảo có tầm vóc, vượt xa thị-trường in ấn quốc-nội 85 triệu người, không ai nghi ngờ sự thành-công của Cộng-đồng Tự-do về Văn Học (8).

1. Mục Tiêu Đặt Ra: Sau 8 năm với 3 lần trao Giải, người Y-sĩ đoàn-viên đặt câu-hỏi : 2.5 triệu Người Việt Tị Nạn xây dựng và cổ-xúy công-trình Văn Học, thực hiện giấc mơ tìm Tự Do. Hiển nhiên, nền Văn-học lưu-vong còn đi xa nữa. Vậy sẽ đi xa, phát triển thêm, tới mức độ nào ? Có thực hiện chức-năng của Đoàn Người Khai Phá ? xông vô phạm-trù văn-hóa miền đất mới giúp các thế-hệ Trẻ thăng tiến cân bằng, giúp chúng ta tới mức độ nào ? và, Văn-học Việt-nam Hải-ngoại có mở ra khung cửa sổ, rọi ánh sáng Văn-hóa Năm-châu về quốc nội, cho Đất Nước tiến lên văn-minh hiện-đại-hóa ? một mai Tổ-quốc Việt-nam hết bị thống-trị, khi chế-độ cộng-sản đã được giải trừ.

2. Tìm Thêm Người Đọc. Quảng Bá các tác-phẩm in ấn tại hải-ngoại là mục tiêu duy nhất của Giải Văn Học. Làm cách nào sách tới tay đồng-bào ? Người đọc đi tìm, mua Sách. Đọc sách giải-trí. Đọc để thành công trong cuộc định-cư nơi Đất Mới, ...

Trên xe lửa, tại sân bay, người tây-phương, các sắc da mầu, du khách Á-châu .. cuốn sách trên tay tàu còn chưa tới. Họ đọc sách tìm vui; đọc để mở mang kiến thức, kiếm thêm lợi tức; làm giầu qua Sách Báo trên đường du-lịch. Các thùng quyên sách, Books for Charity, xin Sách như xin quần áo cho người đói rét đặt tại các góc phố cho thấy Sách là cơm ăn áo mặc của Người Tây Phương.

Du khách gốc Việt thì thảng hoặc mới thấy người ngồi bên cuốn sách, lúc chờ tàu !

3. Phê Văn Bình Sách, Khâu Khuyến Văn Then Chốt Nhất.

Vì Sao Người Mình Không Đọc Sách ?

Chữ Việt học dễ, và mau. Chỉ 1-2 tháng, một người có trí khôn có thể ghép vần, đọc hết các chữ in trên trang Sách. Tất nhiên, hiểu nhiều hiểu ít còn tùy thuộc mức-độ làm quen với các từ-ngữ Việt. Có hiểu nghĩa của tiếng thì đọc chữ mới biết câu-văn nói gì. Tóm lại, đọc chữ quốc-ngữ cho gợi lên âm vận, thành tiếng giống như tiếng nói thì mau và dễ. Nhưng muốn hiểu, và tìm thấy lợi-ích từ tờ Sách bốc lên thì phải đọc, đọc nhiều, và ham đọc.

Không hiểu chữ nào, phải tra nghĩa chữ đó ghi trong sách tự-điển.

Một trong những cách hấp dẫn người đọc là giới thiệu, mách tên những cuốn sách hấp dẫn, dễ đọc mà học được điều người-đọc đang cần. Người mách bảo là người bình sách, đọc và lượng-giá các sách mới in hay đã có trên thị-trường, nhà phê bình văn-học. Các vị nhà-văn và học-gỉa chấm điểm Sách dự thi GVH chính là những nhà phê bình văn học. Từ cả trăm pho sách, nhà phê bình lựa các cuốn giá trị cao, giới thiệu cho đồng-hương biết tựa đề và tác-giả, tìm mà đọc.

Đó là chủ-điểm của Giải Văn Học Y Giới từ 2000 tới nay. Ngoài những tác-phẩm trúng giải, nhiều cuốn Sách: truyện, thơ, khảo cứu có giá trị rất cao, giới thiệu cho Đại-chúng, biết mà đọc.

Cho tới nay : việc phê bình sách trúng giải chưa thực hiện. Sách trúng giải còn chưa giới thiệu cho người đọc. Ban tổ chức chưa cho đại-chúng biết các tên sách hay nhất tốt nhất thì nói chi quảng bá ? giới thiệu các tác-phẩm, mách cho người mua ! Người đọc có mua thì các tác-giả mới in sách đang viết; mới có thêm Nhà Văn đem Sách cho các nhà in.

Ban Tổ Chức chúng tôi chưa tìm được sự hỗ trợ về tài nguyên điểm sách văn học. Cả hải-ngoại, Âu, Mỹ tới Úc-châu, các nhà phê-bình văn-học, phê Văn điểm Sách, đếm đầu ngón tay, 5-7 người.

Phê bình văn học, điểm sách, là nhu cầu cấp thiết. Thiếu người quảng bá, giới thiệu thì độc-giả không biêt sách nào hay, không mua sách. Người-viết in sách bán không chạy. Ngòi bút lụt dần.

4. Thư Mục Văn Học Việt Ngữ. Thiết lập Thư Mục, liệt kê và xếp loại tác-phẩm là việc không thể bỏ qua. Ngoài ra, tóm lược nội-dung chủ-đề mỗi tác-phẩm, khuyến khích tác-giả viết Sách, viết thêm nửa dòng “phụ đề” Anh, Pháp, Đức-ngữ ... đầu mỗi chương. Thư Mục đem phát không, quảng bá rộng rãi cho đại-chúng các ngày Lễ Tết, quảng cáo trên Báo-chí, phân phát tại các Trường, Nhà-thờ, Thư-viện, ... giúp Người Điạ-phương và Trẻ Việt kiếm ra tài-liệu họ đi tìm.

Hy vọng các văn-đoàn, Viện Việt Học, Thư Viện Việt Nam, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chia bớt số năng lượng tranh chấp, hợp tác thiết lập các websites, mạng lưới thư mục, một thứ Amazon, thống-kê và quảng bá tác-phẩm việt-ngữ không riêng cho cộng-đồng người Việt. Nhiều gia-đình VietVets lặn lội tới Vietnam Center & Archives, tận Lubbock, sưu tầm Văn-hóa Việt-nam. Người Đọc cần có tài liệu thống-kê, phân loại nội-dung / chủ đề, những lời hướng dẫn và phê bình sách báo.

IX. Nghiêng Mình Trước Những Tấm Lòng Vàng.

Tương tự như tương-quan trong các Giải quốc tế, Tên tuổi, Uy-danh và Văn-nghiệp của các Học Giả và Nhà Văn giám khảo đã làm tăng giá-trị cho tổ-chức, thu hút những tác-phẩm “gạo cội”. Giá-trị các sáng-tác-phẩm văn-học ngày một tăng cao.

Cảm tạ quí vị Mạnh Thường Quân yểm trợ tài chánh và khuyến khíc tinh thần. Cảm tạ các tác-giả gửi tác-phẩm văn-học ghi danh dự tranh. Quí vị vừa là chứng-nhân thời-sự. Lại dự phần chữa cháy, chống âm mưu xâm thực gian manh, giữ kho tàng văn-học tồn tại, tài bồi. Vắng mặt Quí Vị, văn-học chánh truyền Việt-ngữ lọt vô tay bọn cộng sản duy vật vô tổ-quốc sẽ bị đẩy vô nạn tuyệt chủng.

Lời Kết

Nền văn-học hải ngoại có số lượng sách viết và in - hàng ngàn tác-phẩm, ba chục năm - cung ứng cho nhu cầu văn-học cộng-đồng 2 triệu rưởi người. Số lượng, giá trị, thể-loại đã đáng kể. Tài nguyên nhân-lực thiết bị bên cạnh đội-ngũ viết văn mới thật là vô-giá. Một chuyên-gia đặt trang sách vô máy in. Đầu bên kia bản dịch hiện ra, Anh-văn trở thành bản in tiếng Việt.

Tiền-nhân chúng ta, cụ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của từ thượng-giới siêu hình nhìn xuống nền Văn-học Việt-ngữ, ắt hẳn đang mỉm cười, và tự hào bội phục.

Câu hỏi đặt ra: Nền Văn-học hải-ngoại, ngoài chức-năng thăng tiến nếp-sống cho Cộng Đồng và hoài bão tài bồi Lý-tưởng Tự-do, có đặt mục tiêu góp phần xây-dựng Tổ-quốc Việt-nam mình mang nợ sinh-thành, tiếng nói - chữ viết, nửa đời phục-vụ, một cơ may lên văn minh hiện đại ?

Nếu câu trả lời là “có” thì công-tác săn-tìm văn-minh sẽ là cơ may đền đáp món nợ tình thần.

Người Việt Tự Do sống ngay giữa Văn Minh Tây Âu. Chuyên-gia tị-nạn sát cánh với các đồng-sự, cùng với họ điều hành và quản-trị các cơ-sở văn-hóa, kỹ-thuật trong tập-tục văn-minh dân-chủ. Ta còn biết: Người Tây Phương(9) cặn kẽ chính-xác trong suy-nghĩ; mạch-lạc khúc-chiết trong ngôn từ; ngăn nắp quy củ trong tổ-chức; tích-cực cang-cường trong tính-khí (10).

Và, từ những kinh-nghiệm tiếp thâu, các cây bút tự-do có quyền chọn lọc, tôi rèn các Tinh-hoa Văn-minh Âu-mỹ tiếp cận quan sát mỗi ngày; san-định thành những sáng tác phẩm văn-học, văn-chương hay biên-khảo, in thành sách báo (mỏng và nhẹ) dễ quảng bá. Văn-hóa-phẩm hải-ngoại mở ra khung cửa sổ, rọi chiếu nguồn ánh sáng văn-minh về quốc-nội, kịp thời khôi phục cốt cách Văn Lang, và khởi đầu tạo dựng nền văn-minh khoa-học kỹ-thuật. Nền văn-minh đạt trình-độ ngày càng cao. Khi đã đủ cao, Dân-tộc quốc-nội sẽ tiến lên hiện-đại-hóa sau khi chế-độ cộng-sản được giải trừ.

Chưa một quốc-gia nào tiến lên nếp sống văn-minh khi còn cai-trị theo chế-độ cộng-sản.

Qua dòng lịch-sử các quốc-gia, muốn thoát cảnh nghèo nàn lạc hậu, trước hết, phải tháo cũi xổ lồng về văn-hóa(11). Nội-dung văn học cần rời bỏ thế đứng tĩnh tại của xã-hội nông-nghiệp cũ. Văn-giới tị-nạn hiện có trong tay cái sức mạnh vô song. Đó là cơ may tiếp cận để tiếp thâu văn-minh. Sức mạnh triệu lần dũng mãnh hơn các phong-trào Đông-du và Tây-du của các chí-sĩ Họ Phan hợp lại.

Có người cho “học tây phương” có nghĩa là luyện lấy kỹ-thuật và khoa-học do Tây-phương phát minh đem về làm giầu cho nước mình.

Thưa, không hẳn vậy. Khoa-học, tài khéo chưa quan trọng. Cốt lõi sức mạnh của Tây Âu nằm trong Con Người tây-phương, trong cách suy-nghĩ chính xác, trong ngôn-ngữ mạch-lạc, trong tổ-chức ngăn nắp; và nhất là, ta cần học hơn hết: trong cách tôi rèn tính khí Người Dân, cung cách tôi rèn từ tinh-thần tới thể-xác giống Ấn Âu truyền cho nhau đời này qua đời kế tiếp.

Tiến trình phát triển các xã-hội chứng tỏ rằng: Văn-hóa là cánh cửa mở ra, đưa mỗi Dân-tộc lên Văn-minh(12). Nền Văn-minh sán lạn sẽ, tựu trung, trao lại cho Người Dân cái khả năng xây-dựng xã-hội và đời sống có phẩm chất tương xứng với các đặc tính và chức năng văn-hóa của Dân-tộc đó. Xã-hội Ấn coi-thường tiện-nghi vật chất, quan niệm giá-trị của nền văn-hóa thần-thể-tính Hindu. Xã-hội Trung-hoa, chói sáng 8 ngàn năm, mất sức và ngừng lại ở giai-đoạn xã-hội nông-nghiệp - thủ-công-nghệ của chế-độ quân-chủ chuyên-chế bế môn tỏa cảng. Ngược lại, văn-hóa Ấn Âu thoát thai từ Cận Đông - những giải đất khô cằn Balkans/Địa-trung-hải - đã dẫn dắt cháu con tạo dựng nền văn minh khoa-học kỹ-thuật có sức mạnh vô địch suốt 12 thế-kỷ. Con cháu Hy-La rủ nhau viết thảo-chương, cưỡi phi-thuyền, tìm “bè bạn” rải rác đâu đó, các hành-tinh trong Giải Ngân-hà !

Nhìn lại các phong trào Duy Tân. Cụ Phan Châu Trinh, cụ Phan Bội Châu, cụ Cường Để nát cổ nổ họng kêu gào “hãy đi ra ngoài, học lấy văn-minh của người. Có khai hóa, có nâng cao nếp sống và trí tuệ Người Dân thì mới giữ được độc-lập”. Số người xuất dương Đông-du hồi đó, dù chỉ cầu học lại, học mót một chút kỹ-thuật thứ-cấp Nhật hay Tầu dậy cho, chưa tới 200. Sinh-viên Tây-du (đi Pháp) đếm trên đầu ngón tay. Và cho dù đi Nhật, đi Tầu hay đi Tây dưới thời các Cụ Phan, thì cuối cùng hầu hết du-sinh đều bỏ văn-học kỹ-thuật, quay ra học làm cách mạng. Kế toán kết-quả rút từ lịch-sử đông-du (cụ Phan Bội Châu)hay tây-du (cụ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường) chẳng ai đem về chút văn-minh nào của Người để kiến-thiết xứ mình(13) . Sáng giá nhất, và cũng mỉa mai nhất, là nhóm tây-du, Ngũ Long Paris (14), sang Tây học toàn của nợ, học làm tay sai cách mạng vô sản quốc tế, đẩy Dân Tộc Việt-nam 6 thế-hệ con dân vô “chiến-tranh giải-phóng” chém giết. Kẻ chiến thắng cuối cùng, bọn cộng sản, dâng Đất cắt Biển cho ngoại-bang, lầm than tới tận giờ này.

Điều mong ước của chúng ta: sớm nhìn thấy các vị thức-giả tự-do có lòng, kết thành tổ-chức. Tổ-chức tiếp thâu, gạn lọc tinh-hoa từ các nền văn minh của NGƯỜI, tôi rèn để trở thành trang bị đại-chúng theo nhu-cầu phát triển cho Đất Nước của MÌNH.

Tâm sự của người Y-Sĩ tị-nạn bất tài phục-vụ Giải Văn Học 8 năm nay, đơn thuần có vậy.

Nguyễn Đức Liên, MD, MPH, TM May15,2008
Email: lien599@yahoo.com



Ghi Chú:

(1). Lời Cảm Tạ kính gửiQuí Vị Nhà-văn & Học-giả có sự-nghiệp và uy-tín cao trong Văn Thi Giới, Nhà Văn Võ Phiến (USA), Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ (USA), cố GS Nguyễn Khắc Hoạch (USA), GS Bùi Xuân Quang (Pháp), GS Nguyễn Anh Tuấn (Úc-châu) , BS Trần Văn Tích (Đức), GS Trần Gia Phụng (Canada), Nhà Văn Ký-giả Laurent Phan Lạc Phúc (Úc-châu), GS Nguyễn Quý Bổng (Canada), BS Nguyễn Tường Bách (USA), BS Nguyễn Mạnh Tiến (Úc-châu), Nhà Văn Trương Anh Thụy (USA) đã cống hiến công-sức thời giờ, cả năm trời, đọc hàng trăm pho sách, giúp ban tổ chức tiến hành 3 kỳ trao Giải, từ 2000 tới 2008. Nhờ uy-tín và sự-nghiệp văn-học của các Giám-khảo thu hút, hàng trăm bộ sách được tác-giả ghi tên dự tranh mỗi kỳ.

Ngoài ra, các đồng nghiệp Phạm Hữu Trác (ý niệm khởi thủy), Nguyễn Ngọc Kỳ, TS Trần Huy Bích, ... đã mở đưòng, kiên trì thúc đẩy và yểm trợ kể từ giai đoạn thành lập.

Hai giới Ân-nhân nữa xin nhắc lại với lòng cảm ơn :

· Các Cây viết gửi tác-phẩm dự tranh, tác-giả và gia-đình, thân hữu của nhà-văn đã tín-nhiệm gửi tác-phẩm cho ban tổ chức. Sách gửi từ Úc và Âu-châu, cước phí cả một gia-tài.

· Đặc biệt các mạnh-thường-quân yểm trợ rộng rãi hữu hiệu. Giải lẫn bưu-phí. Không có yểm trợ bền bỉ và khoan dung của Thân Hữu quảng đại từ 2000 tới nay thì không thực hiện nổi các kỳ Trao Giải.

(2). Sách xuất bản. Con số Sách ghi danh dự tranh GVH mỗi 3 năm. Số sách xuất bản nhưng không ghi danh tham dự Giải Văn Học. Con số nhiều gấp ngàn lần hay hơn. Đối chiếu dân-số 3 triệu / 85 triệu, tương đương tỷ-số 1/30, cho ta ý-niệm sách báo văn-học hải ngoại ngàn lần sống động hơn số Sách cho 85 triệu đồng-bào quốc-nội. Ước tính của người viết sau khi thamm khảo các nhà xuất-bản và văn-thi giới.

(3) Nguyễn Văn Lục Tạp-chí Tân Văn số 10. pp 76, parag. 3-parag. 6 tác-phẩm văn học Nam - Bắc .. .

“ ... Họ (chánh quyền cộng sản) cố hủy diệt văn-học Miền Nam mặc dù không hiểu gì về Văn-học ấy. Càng không hiểu được sức sáng tác từ tinh-thần tự-do sáng tạo của các nhà văn Miền Nam cũng như hệ thống tự do xuất bản ... . Bình Nguyên Lộc viết 820 truyện ngắn năm 1966. Đến 1975, số lượng đã hẳn trên 1000. Truyện dài của ông gần 100 cuốn, và còn vô số chưa in, khoảng 30. Nhà văn Duyên Anh có trên 30 tác phẩm. Ông Nguyễn Hiến Lê, trong lá thư gửi con, nhằm ngày sinh nhật 60 tuổi cho biết đã cho xuất bản được trên 100 cuốn sách. Vậy mà từ sau “giải phóng” Nguyễn Hiến Lê viết được tất cả 4 bài. Một bài viết về tác phong cán bộ Bắc vô Nam và ở bưng về, tờ Đại Đòan Kết không đăng. “

“Nguyễn Tuân, nhà văn hàng đầu Miền Bắc, tiền chiến có 10 tác-phẩm nổi tiếng (Vang Bóng Một Thời, Tàn Đèn Dầu Lạc, .. từ 45-75 có 10 tác-phẩm đều tầm thường như Hà Nội Ta Đánh Mỹ Giỏi, ... Những Tô Hoài, ngoài một vài cuốn ký, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan, nhất là Nam Cao đã viết được gì ? “

“Nguyễn Hiến Lê nhận xét: Trong hai chục năm sau tiếp thu Hà-nội, không có nhà văn nào cho ra được 9, 10 tác-phẩm. Trung bình chỉ được một, hai. Về loại sáng tác, tôi thấy thơ và tiểu thuyết kém. các nhà nổi danh thời đó như Huy Cận, Chế Lan Viên, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển .. viết ít hơn trước và nghệ-thuật không hơn gì trước. “ (... ngưng trích ...)

(4) Chương-trình “tái tạo diện mạo lai-lịch cho người việt tha phương. Reconstructing Identity of the Vietnamse in Diaspora” thành hình bởi NGO WJC. Nguyễn Bá Chung, giám-đốc chương-trình tuyển-sinh thường-trú đặt cho người tị-nạn cái tên “nòng súng rỉ”, “viên đạn lép”. Bác-sĩ Nguyễn Ý Đức, là 1 trong các tuyển-sinh của Nguyễn Bá Chung, chẩn mạch người Việt hải-ngoại, dán lên mặt 2.5 triệu người Mỹ gốc Việt bịnh-chứng già nua, bịnh hoạn, ăn bám. Tư lệnh tiền-phương kiều-vận CS Trần Văn Thủy từ Hà-nội tới với WJC, đánh đòn ân-huệ “bắt dòng sinh-hoạt hải-ngoại quay đầu qui phục chế-độ cộng-sản man rợ, “đi hết biển ắt phải về lăng”.

(5) Trẻ Mãi Không Già

(6). The Importance of the West. Foundation of Western Civilization, a History of the Modern Western World. Professor Robert Bucholtz, Loyola University of Chicago. The Teaching Company. Part 1 of 4. pp 11 and 12

(7). Học Đọc Chữ Việt. Đại-úy Smith, Cố-vấn Mỹ cho TD3ND chỉ học 2 cái-cuối-tuần, đọc tất cả các bài trên tuần báo VNTP thành Tiếng Việt, nhưng không hiểu câu văn hay bài báo nói gì trừ những con số ông đã học nghĩa và dùng quen nhờ đọc tọa-độ xin không-yểm, tác xạ và tản thương.

(8). Văn Học. khối lượng các tác phẩm văn-chương nghệ-thuật tạo nên bởi một ngôn ngữ, một nước hay một thời đại đặc thù Literature, the body of written works produced in a particular language, country or age

(9). Đặc-tính Người Dân Tây-phương. Tùng Phong, “Chính Đề Việt Nam” nhà xuất bản Đồng Nai, Sài Gòn, 1964. In lại 1988, Nhà Xuất Bản Hùng Vương, California. “Đặc tính của Văn-minh Tây-phương” pp 173-178.

(10) Tư Thái, behavior. “cung cách xử sự hay phản ứng lại của Con Người đứng trước đòi hỏi đến từ môi-trường xã-hội, hay những thôi thúc toát ra từ nhu-cầu nội-thân, hoặc cả hai loại đòi hỏi cùng xẩy đến (từ nội thân và hoàn cảnh) kết hợp lại”, the manner in which a person behaves in acting or reacting to social stimuli or to inner need or to a combination thereof. Tự-điển Webster’s Third New International Dictionary of the English Language Unabridged, Merriam-Webster Inc, 1986. pp 199.

(11). Văn Hóa. tổng thể các biểu hiện tư thái Con Người và các sản phẩm nhờ tư-thái ấy mà có, bao gồm lối suy nghĩ, lời nói việc làm và các công trình nghệ thuật tạo thành nhờ khả năng học hỏi rồi truyền đạt lại cho các thế hệ kế thừa qua khí cụ, ngôn ngữ, và phương thức dậy dỗ bí truyền. Culture.the total patterns of human behavior and its products embodied on thought, speech, action and artifacts; and dependent upon man’s capacity for learning and transmitting knowledge to succeeding generations through the use of tools, language, and systems of abstract thoughts.

(12). Văn Minh.Civilization. ”mức phát triển tối hảo về văn-hóa của (tập-thể) con-người bao gồm các đặc-tính (a) chấm dứt hoàn toàn cảnh sống bán khai và những phong tục quái dị; (b) cung cách xử-dụng hợp lý các nguồn tài-nguyên vật-chất, văn-hóa, tinh-thần và tài-nguyên nhân-lực; (c) mức-độ thích-ứng hoàn hảo của các cá-nhân hòa nhập vô tổ-chức xã-hội”. Civilization, an ideal state of human culture characterized by complete abscence of barbarism and non-rational behavior; optimum utilization of physical, cultural, spiritual, and human resources; a perfect adjustment of the individual within the social framework” . Từ-điển Webster’s Third New International Dictionary of the English Language Unabridged, Merriam-Webster Inc, 1986.

(13). “Phan Bội Châu Toàn Tập”, cuốn 1, pp XXII-XXIII

(14).  Ngũ Long Paris. Ngo Van «VietNam 1920-1945 révolution et contre-révolution sous la domination colonial », «Ngũ Long Paris» Cinq Dragons à Paris, pp 26-43. Nautilus Editions, September 2000.

***. Người viết vẫn trách-nhiệm về các tác-phẩm và việc tiến hành GVH kỳ I.

C: Giai Van Hoc Viet Nam Hai Ngoai