Qua cung cách ông đến Houston, và qua những điều ông nói với cử tọa trên 200 người tại đây, người Việt Houston thông thống nhìn rõ chân dung ông Michael Michalak, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, như ông đang … lõa thể --không thiếu một chi tiết nào cả. Ông đến đây để gặp người Việt Nam, và để nói chuyện Việt Nam với họ, mà không được họ mời; ông cũng không cho họ một thời gian hữu lý để trang trọng tiếp đón ông, phù hợp với chức vụ quan trọng của ông. Một viên chức Hoa Kỳ gọi điện thoại cho một hội đoàn thân hữu Việt Nam, và nói với ban quản trị hội đoàn này là ông Michalak muốn đến thảo luận với người Việt Houston về những vấn đề liên quan đến tình hình Việt Nam. Chừng nào ông đến? Hai ngày sau, 48 tiếng đồng hồ nữa, đúng 7 giờ chiều ngày thứ Ba mùng 10 tháng Sáu 2008. Cấp bách và chính xác như một lệnh hành quân.
Cơ duyên được nghe một giới chức có thẩm quyền nói về tình hình của quê hương “ngàn dậm” đoạn trường không dễ gì đến, cũng không phải là một cơ duyên có thể gặp mỗi tháng hay mỗi năm, nên người Việt Houston không “just xây nô” như chủ trương của bà Nancy Reagan giúp thiếu niên Hoa Kỳ chống ma túy. Họ nhận lời, họ ới nhau trên imeo, họ đóng góp mỗi người $15 để gây quỹ mời ông đại sứ vừa ăn chiều, vừa nói cho họ nghe chuyện quê hương họ. Cuộc nói chuyện tổ chức tại nhà hàng Kim Sơn, cách xa khu Bellaire trung tâm sinh hoạt của người Việt Houston khoảng 25 miles, giờ hẹn đúng vào giờ “ùn tắc” của mọi xa lộ Houston, kể cả những xa lộ có nạp tiền mãi lộ; nhưng mới 6 rưỡi chiều hơn 200 người đã tề tựu đủ mặt, làm đảo lộn “truyền thống” ăn đi trễ, hội lễ đi sau, biểu tình mưa nắng dãi dầu, … xin miễn, của 33 năm văn hoá hải ngoại. Cách ông Michalak tự mời, ngày giờ hẹn gặp gấp rút của ông giúp tôi nhớ lại một hình ảnh quân sự ngày tôi còn là một chú thiếu úy trẻ: hình ảnh của những người lính tiền sát.
Tiền sát viên là người lính tiền đạo, đi trước đơn vị vài chục hay vài trăm thước để mở đường hành quân cho đồng đội; anh nổ súng bắn địch trước mọi người, hay, thông thường hơn, anh bị địch bắn trước mọi người, tạo dấu hiệu báo động, giúp đồng đội không bị tấn công bất ngờ.
Ðó là hình ảnh ông đại sứ Michael Michalack tạo cho tôi, khi ông cổi áo ngoài, mặc sơ mi trần, thắt cà vạt (như tôi), và … vật lộn với những điều góp ý của một cử tọa trên 200 người --người già (như tôi) ít hơn người trẻ. Ông to lớn, rềnh ràng, già nua gấp đôi những người lính tiền đạo tôi chỉ huy trên nửa thế kỷ trước --không anh nào quá 25 tuổi, không anh nào nặng trên 60 ký. Tuy ông khác vóc dáng, nhưng tôi vẫn thấy ông giống họ, có lẽ vì việc làm của ông tạo cho tôi cái liên tưởng đến họ, những người lính tiền đạo đi trước đơn vị để thăm dò phản ứng địch. Ông nói ông đang vật lộn với Việt Cộng trên nhiều địa hạt: nhân quyền, luật pháp, dân chủ, tôn giáo, tự do báo chí …, vì địa hạt nào cũng đầy khác biệt giữa hai chế độ độc tài cộng sản của Việt Cộng, và tự do dân chủ của Hoa Kỳ. Một thính giả bảo ông là cử tọa đang nghe ông nói không ngạc nhiên về những khác biệt đó, vì đó chính là nguyên nhân khiến họ phải bỏ phiếu bằng chân, bỏ tất cả để chạy lấy người, để chối bỏ chế độ Việt Cộng. Ông thính giả này còn nói, “chúng tôi chống Việt Cộng không phải vì chúng tôi ghét họ, mà vì họ làm khổ dân Việt Nam, và tạo lạc hậu cho nước Việt Nam.”
Ông Michalak nói người Việt Nam nhiều đức tính lắm, siêu cần cù nè, siêu thông minh nè, và cũng siêu thực tế nữa nè; nghe ông nói nhiều người “chịu” lắm, kể cả tôi nữa; tôi cho là ông đại sứ đúng là … một nhà ngoại giao, chỉ cần nói vài câu là cử tọa sướng nở mũi ngay. Nhưng ông nói thêm là tất cả mọi người Việt Nam ông biết đều có những đức tính ông vừa nêu lên, kể cả các ông quan Việt Cộng. Lỗ mũi đang nở phồng, xìu xuống, vẻ bất đồng ý hiện rõ trên nét mặt mọi người, và trong tiếng xì xầm phê phán, nhưng dĩ nhiên cử tọa vẫn vô cùng lịch sự, nghe ông nói tiếp. Michalak nói một trong 3 trọng điểm ông muốn thực hiện tại Việt Nam là nâng cao nền học vấn của sinh viên. Ông kể lại là ngày ra điều trần trước thượng viện để được tấn phong, ông đã hứa với quý vị nghị sĩ là trong nhiệm kỳ 3 năm của ông tại Việt Nam, ông sẽ làm số sinh viên Việt Nam du học tăng gấp đôi. Mục tiêu này ông đạt được ngay năm đầu, nhờ ý thức trách nhiệm và thiện chí của quan chức Việt Cộng. Michalak nói về dự án để sinh viên chỉ du học trong 2 năm chót của chương trình cử nhân, 2 năm đầu họ học tại Việt Nam. Dự án này tăng số du sinh lên gấp đôi, vì giảm thời gian du học của họ còn một nửa. “Cuộc thăm viếng của thủ tướng trong vài tuần sắp tới sẽ chứng minh là đôi bên (Mỹ-Việt Cộng) cam kết tiến tới,” Michalack nói. Luật sư Hoàng Duy Hùng bảo tôi, “Anh này vận động cho chuyến đến Houston của Nguyễn Tấn Dũng.” Nữ bác sĩ Hồ Ngọc Trâm lên máy vi âm hỏi về thái độ của Hoa Kỳ đối với những nhà dân chủ đang bị giam giữ, cô nêu đích danh hai luật sư Lê thị Công Nhân và Nguyễn văn Ðài bị cầm tù chỉ vì “tội” nói lên quan điểm của mình. Michalak trả lời là không lần gặp gỡ nào với các quan Việt Cộng mà ông không nhắc đến vấn đề luật pháp Việt Cộng, nhưng cô Công Nhân đã trả đủ thời gian tù ngục cần thiết để được ân xá, anh Ðài cũng chỉ còn một tháng nữa. Ông nói ông vẫn theo dõi và nhắc nhở các quan Việt Cộng. Một thính giả khác đặt vấn đề tự do báo chí qua việc 2 ký giả vừa bị bắt tại Việt Nam chỉ vì họ viết tin về tham nhũng. Michalak nói việc đó làm rất nhiều người trên khắp thế giới thắc mắc. Ông có câu trả lời sẵn cho mọi vấn đề, không câu trả lời nào trả lời câu hỏi được nêu lên. Phê phán theo kiểu văn chương bình dân thì Michalak nói … huề vốn.
Cuộc chất vấn kéo dài khoảng nửa tiếng, những thắc mắc, góp ý, thỉnh cầu …, nối tiếp nhau nổ nhanh và lớn như đại liên bắn rafale, khiến tôi càng ray rứt nhớ anh lính tiền đạo ngày xưa. Ngày đó, tiếng nổ của những tràng đại liên nhắm vào cơ thể anh báo động, giúp tôi vài phút ngắn ngủi để điều khiển trung đội bộ binh tôi chỉ huy vào một đội hình tác chiến thích hợp với thế đất, với địch tình hơn. Ngày nay, ngày thứ Ba mùng 10 tháng Sáu, 2008, việc tiền sát viên Michalak sa vào trận địa pháo của người Việt Houston có giúp thiếu úy Nguyễn Tấn Dũng tìm được một lối thoát nào khác hơn lối lăng ba vi bộ không. Ngoài hình ảnh của người lính tiền đạo, ông Michalak còn làm tôi liên tưởng đến những người phát ngôn viên, nói thay cho hội đoàn, cho bệnh viện, cho một tổ chức hay một cơ quan chính phủ để trả lời mọi thắc mắc liên quan đến những đơn vị này. Người phát ngôn của cảnh sát giải thích nguyên nhân cảnh sát bắn chết người bằng cách nói là viên cảnh sát thấy nghi can có thái độ giống như sắp móc súng ra, và vì sợ bị bắn, cảnh sát bắn trước. Lời giải thích này chưa hẳn đã phản ảnh sự thật, nhưng phù hợp với quy điều tự vệ của cảnh sát. Người phát ngôn của bệnh viện, nói nhân vật X., ứng cử viên vào một chức vụ quan trọng, chỉ nhập viện để khám tổng quát sức khỏe, có thể có nghĩa là ông hay bà X. có vấn đề về sức khỏe. Lời nói “nửa thật” này là quy điều của bệnh viện bảo mật bệnh lý của bệnh nhân. Người phát ngôn của Bạch Cung, McClellan?, nói với đài truyền hình NBC, “tôi sẽ khai trước ủy ban Tư Pháp hạ viện mọi việc tôi biết,” về vụ chính quyền bật mí lý lịch CIA của bà Valerie Plame để trả thù chồng bà, đại sứ Joe Wilson. McClellan? không nói lên những điều phù hợp với quan điểm của Bạch Cung, vì ông đã thôi không còn làm chức vụ “người phát ngôn” của Bạch Cung nữa. Nói cách khác, người phát ngôn chỉ nói thật và nói ngược lại với quy điều của cơ quan mình đại diện khi không còn làm việc với cơ quan đó nữa. Nhưng người phát ngôn của phủ Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Nam Vang lại nói, “mặc dù các anh đã từng tù tội nhiều năm, nhưng cuối cùng các anh cũng đã được nhà nước khoan hồng và trả tự do rồi thì hà cớ gì mà phải tỵ nạn chính trị”. Bà này tên là Si-Moan?, bà nói như vậy với những người Thượng Việt Nam đang được phủ UNHCR cho tạm trú trong một trại tị nạn của Liên Hiệp Quốc tại Nam Vang. Số người này đã từng bị Việt Cộng giam cầm nhiều năm tại các trại Hàm Tân, Xuân Phước, Thanh Hóa, Nam Hà, hằng chục năm trời, thậm chí có nhiều người bị tra tấn đến tàn phế, nhưng khi đến Cambodia sau tháng 5 năm 2007 họ bị từ chối quy chế tỵ nạn. Họ cho biết bà Si-Moan? và hai tên Sophat, Kim Sambath, ba trong số những nhân viên của văn phòng đại diện của UNHCR tại Nam Vang, là người Việt lấy tên Cambodia. Chính bà Si-moan cũng nhiều lần đe doa trục xuất mục sư A Đung về nước, vì mục sư đã lên tiếng tố cáo những hành vi vi phạm nhân quyền và xúc phạm đến nhân phẩm những người Thượng tỵ nạn.
Mục sư A Đung Mục sư A Đung người H'lang sinh quán tại xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum; tháng 9 năm 2006, ông đến Nam Vang tham dự khóa huấn luyện mục vụ cho đến ngày 10 tháng 10, kết thúc khóa học, trở về quê nhà, và bị bắt, bị giam giữ nhiều ngày tại đồn công an huyện Sa Thầy vì tội dám tham dự khóa học mục vụ do giáo hội Mennonite tổ chức. Sau 10 ngày bị giam giữ, mục sư A Đung bị phạt hành chánh 500,000 đồng và bị quản chế tại gia 3 năm, bị cấm tham gia bất cứ hoạt động tôn giáo nào tại địa phương, cấm thực hiện bất cứ mục vụ hay linh vụ tại bất cứ hội thánh nào ở Tây Nguyên. Trong suốt thời gian này, mỗi tuần một lần, mục sư A Đung phải đến trình diện tại cơ quan công an huyện Sa Thầy. Đến tháng 8 năm 2007, mục sư A Đung xuyên rừng bạt núi, đào thoát được đến Cambodia xin tỵ nạn chính trị, được UNHCR tiếp nhận và đưa vào tạm trú tại trai tỵ nạn số 3, Tưk Thla, Phnom Penh. Từ tháng 10 năm 2006 sau khi tổ chức JESUIT REFUGEE SERVICE, một đối tác của UNHCR tại Nam Vang bị thay thế bằng IFDO (International Friendship Development Organization) một tổ chức trực thuộc Bộ Nội Vụ Cambodia thì nhân sự tại văn phòng đại diện của UNHCR tại Nam Vang, các luật sư Anna Margarethe Oliver, Inna Gladkova, Inge và Raymond lần lượt bị thay thế bằng những người Khmer bản xứ đến từ Bộ Nội Vụ và Bộ Ngoại Giao của Cambodia, thì dường như không có bất cứ người Thượng nào được cấp quy chế tỵ nạn nữa cả. Trước tình trạng mỗi tuần có đến vài chục người bị trục xuất về nước, mục sư A Đung và gia đình quyết định vượt trại để tiếp tục hành trình đi tìm tự do ở một văn phòng khác của UNHCR tại Bangkok, Thái Lan. Ông gặp một người Việt tên là Vũ Hứa Kháng, nay tự xưng là mục sư Bác sỹ Vũ Hứa Kháng và ông Kháng đã đưa gia đình mục sư A Đung đến thuê phòng trọ tại khu vực Toul Kork, gần Đại sứ quán Pháp. Ðến 5 giờ chiều Thứ Ba, ngày 03 tháng 6 năm 2008 thì 6 nhân viên mật vụ của cộng sản Việt Nam xuất hiện, bắt cóc cả gia đình mục sư A Đung, tống vào xe bịt bùng và chạy biến mất về phía Tòa Đại sứ của CSVN tại Nam Vang.
Trong buổi gặp gỡ với người Việt Nam tại Houston chiều mùng 10 tháng Sáu, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak, đã nói nhiều câu khá gần với lập trường của Việt Cộng để vận động thiện cảm của người Việt Nam đối với việc Việt Cộng lập tòa lãnh sự tại đây. Khoảng 20 người Việt Nam đã chất vấn ông đại sứ về những phản ứng của ông đối với những vi phạm tự do, nhân quyền, đàn áp đối lập Việt Cộng làm trong nước, nhưng chưa ai nêu lên câu hỏi, “bao giờ Việt Cộng bắt cóc người Việt Nam chống cộng tại Houston và đưa về giam trong tòa lãnh sự của chúng”, sau khi chúng lập tòa lãnh sự tại đây. Ông Michalak có thể trả lời ông không biết bao giờ, vì ông không phải là người phát ngôn của đảng Việt Cộng.
Nguyễn Ðạt Thịnh
|